"
si=IvZ5YFmmsoOabK3y&start=57" title="YouTube video player" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture; web-share" referrerpolicy="strict-origin-when-cross-origin" allowfullscreen>
Sách giáo khoa Lịch sử 9 kết nối

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Thu Nga
Ngày gửi: 11h:21' 01-12-2024
Dung lượng: 19.4 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Thu Nga
Ngày gửi: 11h:21' 01-12-2024
Dung lượng: 19.4 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CHƯƠNG 1 THẾ GIỚI TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 1945
Bài 1 NƯỚC NGA VÀ LIÊN XÔ TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 1945
Học xong bài này, em sẽ:
- Nêu được những nét chính về nước Nga trước khi Liên Xô được thành lập.
- Trình bày được những thành tựu và chỉ ra được những hạn chế của công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.
Hình bên là nhà máy thuỷ điện lớn nhất của châu Âu vào những năm 30 của thế kỉ XX –
một trong những thành tựu tiêu biểu về kinh tế của công cuộc xây dựng chủ nghĩa ở Liên
Xô. Không chỉ vậy, Liên Xô còn đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực khác.
Hãy chia sẻ thêm một số thành tựu của Liên Xô mà em biết.
Hình 1.1. Nhà máy Eni-ép được khởi công xây dựng năm 1927
1. Nước Nga Xô viết từ năm 1918 đến năm 1922
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười năm 1917, quân đội 14 đế quốc (Anh,
Pháp, Mỹ, Nhật Bản,...) đã câu kết với các thế lực phản cách mạng trong nước mở cuộc
tấn công vũ trang vào nước Nga Xô viết.
Suốt ba năm (1918 – 1920), nước Nga phải tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng
chống thù trong, giặc ngoài trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ. Từ năm
1919 với việc thực hiện Chính sách cộng sản thời chiến (quốc hữu hoá toàn bộ các xí
nghiệp, trưng thu lương thực thừa của nông dân, thi hành chế độ lao động bắt buộc,...),
Nhà nước Xô viết đã kiểm soát được các ngành kinh tế then chốt như: ngân hàng, đường
sắt, ngoại thương, hầm mỏ,…
Cuối năm 1920, Hồng quân đã đánh tan giặc ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính
quyền cách mạng. Nhà nước Xô viết đã xoá bỏ những bất công trong xã hội, thực hiện
quyền tự do dân chủ, quyền tự quyết của các dân tộc.
Tháng 3 - 1921, Đảng Bôn-sê-vích quyết định thực hiện Chính sách kinh tế mới
(NEP) do Lê-nin đề xướng, Nhờ vậy, nước Nga Xô viết đã từng bước vượt qua khủng
hoảng, phục hồi kinh tế và đời sống nhân dân được cải thiện.
1
Hình 1.2. Lược đồ nước Nga Xô viết chống thủ trong, giặc ngoài (1918 – 1920)
Nội dung cơ bản của Chính sách kinh tế mới là bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực
thừa và thay thể bằng chính sách thu thuế lương thực (sau khi nộp dù thuế, nông dân được
toàn quyền sử dụng số lương thực dư thừa); thực hiện tự do buôn bán, cho phép tư nhân
được mở các xí nghiệp nhỏ, khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư kinh doanh ở Nga,..
Hình 1.3. Thành phố Mát-xcơ-va trong những năm 20 của thế kỉ XX
? Nêu những nét chính về tình hình nước Nga Xô viết từ năm 1918 đến năm 1922.
2. Liên Xô từ năm 1922 đến năm 1945
Tháng 12 - 1922, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết được thành lập (còn
gọi là Liên Xô), gồm 4 nước Cộng hoà Xô viết là Nga, U-crai-na, Bé-lô-rút-xi-a và Ngoại
Cáp-ca-dơ. Đến năm 1940, Liên Xô bao gồm 15 nước cộng hoà.
Nhờ sự nỗ lực của các nước cộng hoà, từ năm 1922 đến năm 1945, Liên Xô đã đạt
được nhiều thành tựu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực.
Về kinh tế: Sau khi hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, tháng 12 – 1925, Đại
hội của
Hình 1.4. V.I. Lê-nin – người sáng lập Nhà nước Xô viết
Đảng Bôn-sê-vích đã xác định đường lối và nhiệm vụ cơ bản để thực hiện công
nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đặt trọng tâm là phát triển công nghiệp nặng.
Trải qua hai kế hoạch 5 năm (1928 – 1932, 1933 – 1937) xây dựng chủ nghĩa xã
hội, Liên Xô đã trở thành một cường quốc công nghiệp.
Sản xuất công nghiệp đã chiếm hơn 70% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. Sản
lượng công nghiệp của Liên Xô đứng đầu châu Âu và đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ).
2
BẢNG SẢN LƯỢNG MỘT SỐ SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP CỦA LIÊN XÔ TRONG
NHỮNG NĂM 1928 - 1940
(Theo The World in Crisis (Thế giới trong thời Khủng hoảng), Quyển 2, NXB Pi-ơ-sơn, 2013, tr. 48)
Năm
1928
1932
1940
Sản phẩm
Thép (triệu tấn)
4
6
18
Dầu (triệu tấn)
12
21
26
Điện (tỉ KWh)
5
13
90
Công cuộc tập thể hoá nông nghiệp hoàn thành với quy mô sản xuất lớn.
Về xã hội, văn hoá, giáo dục: Cơ cấu giai cấp trong xã hội có sự thay đổi căn bản.
Các giai cấp bóc lột bị xoá bỏ, chỉ còn lại hai giai cấp lao động là công nhân và nông dân
tập thể,
cùng tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa.
Liên Xô đã xoá được nạn mù chữ, xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất, hoàn
thành phổ cập Trung học cơ sở ở các thành phố. Các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội, văn học - nghệ thuật cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũng đã bộc lộ một số hạn chế,
thiếu sót như: nóng vội, thiếu dân chủ trong quá trình tập thể hoá nông nghiệp, chưa chú
trọng đúng mức đến việc nâng cao đời sống nhân dân,...
Tháng 6 - 1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô, nhân dân Liên Xô phải tạm dừng
thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ ba (được triển khai từ năm 1937) để tiến hành cuộc
chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941 – 1945).
1. Hãy trình bày những thành tựu tiêu biểu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô (1925 – 1941).
2. Hãy cho biết một số hạn chế của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (trước
năm 1941).
Luyện tập - Vận dụng
Hoàn thành bảng (theo gợi ý dưới đây vào vở) về những thành tựu tiêu biểu và hạn chế
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (trước năm 1941).
Lĩnh vực
Thành tựu tiêu biểu
Han chế
Chính trị
?
?
Kinh tế
?
?
Xã hội, văn hoá, giáo dục
?
?
Tìm hiểu thông tin trên sách, báo và internet, viết đoạn văn ngắn giới thiệu về một thành
tựu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1925 – 1941) mà em ấn tượng
nhất.
Bài 2 CHÂU VÀ NƯỚC MỸ TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 194
Học xong bài này, em sẽ:
- Trình bày được những nét chính về: phong trào cách mạng và sự thành lập Quốc tế Cộng
sản; đại suy thoái kinh tế 1929 - 1933; sự hình thành chủ nghĩa phát xít ở châu.
- Nhận biết được tình hình chính trị và sự phát triển kinh tế nước Mỹ giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới.
3
Hình 2.1. Những chiếc xe hơi được rao bán với giá 100 USD trong đại suy thoái kinh tế
(Mỹ, 1929)
Hình 2.2. Tổng thống Hin-den-bua trao quyền thủ tướng cho Hít-le (Đức, 1933)
Trong những năm 1918 – 1945, lịch sử châu và nước Mỹ đã trải qua những bước
phát triển thăng trầm, đầy biến động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Em
biết gì về những biến động đó thông qua hai hình trên? Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản,
đại suy thoái kinh tế thế giới (1929 – 1933) và sự xuất hiện chủ nghĩa phát xít có liên quan
gì đến tình hình đó?
1. Phong trào cách mạng (1918 – 1923) và sự thành lập Quốc tế Cộng sản (1919)
a) Phong trào cách mạng ở các nước tư bản châu Âu.
Do hậu quả nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất và tác động của Cách mạng
tháng Mười Nga năm 1917, vào những năm 1918 – 1923, một phong trào cách mạng đã
bùng nổ ở hầu khắp các nước tư bản châu Âu.
Ở Đức, ngày 9 – 11 – 1918, công nhân và các tầng lớp nhân dân ở Béc-lin đã tổng
bãi công, sau đó chuyển thành khởi nghĩa vũ trang với sự tham gia của cả binh lính đã lật
đổ
Hình 2.3. Nhân dân tập trung trước toà nhà Rây-xtác (Đức) trong buổi tuyên bố thành lập
chính phủ mới (1918)
chế độ quân chủ. Sau đó, chính quyền rơi vào tay giai cấp tư sản, chế độ cộng hoà tư sản ở
Đức được thiết lập. Tháng 12 – 1918, Đảng Cộng sản Đức được thành lập. Trong những
năm 1919 – 1923, phong trào cách mạng chống lại giai cấp tư sản vẫn tiếp diễn nhưng thất
bại.
Phong trào cách mạng cũng phát triển mạnh ở các nước châu Âu như: Hung-ga-ri,
Anh, Pháp,...
Ở Anh, từ năm 1919 đến năm 1921, đã có tới 6,5 triệu người bãi công. Công nhân
không những dưa ra yêu sách kinh tế mà còn dưa ra yêu sách về chính trị.
4
Ở Pháp, phong trào bãi công của công nhân chuyển thành cao trào cách mạng, với
cuộc tổng bãi công lớn nhất nổ ra nhân ngày Quốc tế Lao động (1 - 5 - 1920) lôi cuốn hơn
1 triệu người tham gia và kéo dài suốt một tuần lễ.
Qua phong trào, nhiều Đảng Cộng sản được thành lập như: Đảng Cộng sản Hungga-ri (1918), Đảng Cộng sản Pháp (1920), Đảng Cộng sản Anh (1920), Đảng Cộng sản
Ita-li-a (1921),..
Em có biết?
Ở I-ta-li-a, tính riêng năm 1919, đã có hơn 1.600 cuộc bãi công với hơn 1 triệu
người tham gia. Phong trào đấu tranh của công nhân đạt tới đỉnh điểm vào năm 1920, khi
chuyển thành phong trào chiếm công xưởng, thành lập các “Đội cận vệ đỏ” để bảo vệ công
xưởng.
Trình bày những nét chính về phong trào cách mạng ở các nước tư bản châu Âu từ năm
1918 đến năm 1923.
b) Sự thành lập Quốc tế Cộng sản
Sự phát triển của phong trào cách mạng đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế để lãnh
đạo. Tháng 3 – 1919, với những hoạt động tích cực của V. I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích
Nga, Quốc tế Cộng sản (còn gọi là Quốc tế thứ ba) được thành lập ở Mát-xcơ-va.
Trong thời gian tồn tại (1919 – 1943), Quốc tế Cộng sản đã tiến hành 7 kì đại hội,
đề ra đường lối cho từng thời kì phát triển của cách mạng thế giới, trở thành tổ chức quốc
tế của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Tại Đại hội lần thứ II (1920), Quốc tế Cộng sản thông qua Sơ thảo lần thứ nhất
những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do V. I. Lê-nin dự thảo với khẩu
hiệu: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Nguyễn Ái Quốc đã tìm
thấy ở Luận cương con dường cứu nước, giải phóng dân tộc cho nhân dân Việt Nam.
Năm 1943, do sự thay đổi của tình hình thế giới, Quốc tế Cộng sản tuyên bố tự giải
tán.
Trình bày sự thành lập và một số hoạt động chính của Quốc tế Cộng sản.
2. Cuộc đại suy thoái kinh tế (1929 – 1933) và sự hình thành chủ nghĩa phát xít
Trong những năm 1924 – 1929, kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh
mẽ, sản xuất tăng lên nhanh chóng. Nhưng do sản xuất ồ ạt, nhu cầu và sức mua của thị
trường không có sự tăng lên tương ứng, làm cho hàng hoá trở nên ế thừa và dẫn tới suy
thoái trong sản xuất. Vì thế, đời sống của đa số nhân dân không được cải thiện. Đó là
những nguyên nhân dẫn tới cuộc đại suy thoái kinh tế.
Tháng 10 - 1929, cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ, sau đó lan rộng ra toàn
thế giới tư bản chủ nghĩa, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực (tài chính, công nghiệp, nông
nghiệp, thương nghiệp), kéo dài gần 4 năm, trầm trọng nhất là năm 1932.
Cuộc đại suy thoái đó đã tàn phá nặng nề nền kinh tế và gây ra những hậu quả
nghiêm trọng về mặt xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Tư liệu. Số công nhân thất nghiệp đã lên tới 50 triệu người... Hàng triệu nông dân bị mất
ruộng đất, sống trong cảnh nghèo đói... Trong bối cảnh đó, phong trào cách mạng thế giới
đã có bước chuyển biển mới: thoái trào tiến dẫn lên cao trào... Theo thống kê không đầy
đủ, từ năm 1928 đến cuối năm 1933, số người tham gia bãi công ở các nước tư bản chủ
nghĩa lên tới 17 triệu.
(Theo Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam,
2011, tr. 99)
5
Hình 2.4. Dòng người thất nghiệp ở Hà Lan trong đại suy thoái kinh tế
Để thoát khỏi đại suy thoái, các nước Anh, Pháp,... có nhiều thuộc địa, vốn và thị
trường nên tiến hành những cuộc cải cách kinh tế – xã hội. Trong khi đó, các nước Đức, Ita-li-a, không có hoặc có ít thuộc địa nên ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, thị
trường, đã đi theo con đường phát xít hoá, thiết lập chế độ độc tài, phát động chiến tranh
để phân chia lại thế giới.
Ở Đức, để đối phó lại đại suy thoái kinh tế và phong trào cách mạng ngày càng dâng
cao, giai cấp tư sản cầm quyền quyết định đưa Hit-le lên làm Thủ tướng (1 - 1933). Nước
Đức trở thành một “lò lửa chiến tranh”.
Ở I-ta-li-a, một “lò lửa chiến tranh” khác cũng xuất hiện. Do Chính phủ không thoả
mãn với việc phân chia lại thế giới theo Hoà ước Véc-xai nên đã bành trướng thể lực và
tiến hành xâm chiếm thuộc địa ở châu Phi, khu vực Địa Trung Hải,..
1. Khai thác tư liệu và thông tin trong mục, hãy trình bày nguyên nhân và biểu hiện của
cuộc đại suy thoái kinh tế trong những năm 1929 – 1933.
2. Sự hình thành chủ nghĩa phát xít ở châu Âu diễn ra như thế nào?
3. Nước Mỹ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
a. Tình hình chính trị
Về đối nội: Trong những năm 20 của thế kỉ XX, Đảng Cộng hoà liên tục nắm chính
quyền, đề cao sự phồn vinh của nền kinh tế, ngăn chặn các cuộc đấu tranh của công nhân,
đàn áp những người có tư tưởng tiến bộ,...
Năm 1930, Đảng Dân chủ giành thắng lợi trong cuộc bỏ phiếu bầu Quốc hội Mỹ.
Năm 1932, ứng cử viên Đảng Dân chủ là Ph. Ru-dơ-ven được bầu làm Tổng thống.
Về đối ngoại: Trong những năm 20 của thế kỉ XX, giới cầm quyền Mỹ theo đuổi
lập trường chống Liên Xô, tiếp tục thực hiện học thuyết Mơn-rô (châu Mỹ của người châu
Mỹ) để bành trướng, thậm chí can thiệp về quân sự khi cần thiết đối với khu vực Mỹ Latinh.
Hình 2.5. Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven tuyên bố nhậm chức (1933)
Từ năm 1933, Chính phủ của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã công nhận và đặt quan
hệ ngoại giao với Liên Xô, thực hiện chính sách “láng giềng thân thiện” đối với các nước
Mỹ La-tinh.
b) Sự phát triển kinh tế
6
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đem lại cơ hội vàng cho sự phát triển kinh tế nước
Mỹ, đưa nền kinh tế nước này bước vào thời kì "hoàng kim" trong những năm 20 của thế
kỉ XX.
Chỉ trong vòng 6 năm (1923 – 1929) sản lượng công nghiệp Mỹ tăng 69%. Năm
1929, Mỹ chiếm 48% sản lượng công nghiệp thế giới, đứng đầu thế giới về ngành công
nghiệp sản xuất ô tô, thép và dầu mỏ.
Cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ (10 – 1929), bắt đầu từ lĩnh vực tài chính,
rồi nhanh chóng lan rộng ra các lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp, khiến nền kinh tế,
tài chính Mỹ bị chấn động dữ dội.
Để đưa nước Mỹ thoát ra khỏi cuộc đại suy thoái, Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã
thực hiện Chính sách mới.
Chính sách mới bao gồm các biện pháp nhằm giải quyết nạn thất nghiệp, phục hồi
sự phát triển của các ngành kinh tế – tài chính, cải tổ hệ thống ngân hàng, tạo thêm nhiều
việc làm mới và ổn định tình hình xã hội.
Hình 2.6. Cuộc mít tinh của những người thất nghiệp ở Mỹ (1931)
Chính sách mới đã cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản Mỹ, góp phần làm cho nước Mỹ
duy trì được chế độ dân chủ tư sản, tình hình chính trị, xã hội dần dần được ổn định.
Hình 2.7. Bức tranh đương thời mô tả Chính sách mới của Mỹ (người khổng lồ tượng
trưng cho Nhà nước)
2. Trình bày những nét lớn về tình hình chính trị, kinh tế của nước Mỹ giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới.
Luyên tập - Vận dụng
1. Lập sơ đồ tư duy về những nét chính của tình hình châu Âu và nước Mỹ giữa hai cuộc
chiến tranh thế giới.
2. Nêu nhận xét của em về con đường thoát khỏi đại suy thoái của các nước tư bản châu
Âu và nước Mỹ.
Tìm hiểu thông tin trên sách, báo và internet, viết đoạn văn ngắn giới thiệu về Chính sách
mới của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc đại suy thoái kinh
tế.
7
Bài 3 CHÂU Á TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 1945
Học xong bài này, em sẽ:
- Nêu được những nét chính về tình hình châu Á từ năm 1918 đến năm 1945.
Hình 3.1. Quân Nhật tiến vào chiếm đóng vùng Đông Bắc Trung Quốc (1931)
Hình 3.2. M. Gan-đi và người dân Ấn Độ tuần hành chống thực dân Anh độc quyền muối
(1930)
Hai hình trên phản ánh tình hình trái ngược ở châu Á trong thời gian giữa hai cuộc
chiến tranh thế giới (1918 – 1939). Trong khi Nhật Bản tăng cường chiến tranh xâm lược
thì ở hầu hết các nước còn lại như Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã bùng
nổ các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Vì sao như vậy? Những biểu hiện nào chứng
tỏ điều đó?
1. Nhật Bản từ năm 1918 đến năm 1945
a) Nhật Bản trong những năm 1918 - 1929
Nhờ hưởng lợi từ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế Nhật Bản phát
triển nhanh chóng sau chiến tranh. Tuy nhiên, sự phát triển đó chỉ kéo dài trong 18 tháng.
Đến những năm 1920 - 1921, nền kinh tế Nhật Bản sa sút, nhiều công ty làm ăn thua
lỗ, nhiều nhà kinh doanh bị phá sản, số người thất nghiệp lên tới 12 vạn người. Đời sống
người lao động không được cải thiện, phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân
bùng lên mạnh mẽ. Tháng 7 - 1922, Đảng Cộng sản Nhật Bản được thành lập và trở thành
lực lượng lãnh đạo phong trào công nhân.
Vào những năm 1924 – 1929, kinh tế Nhật Bản phát triển nhưng không ổn định.
Năm 1926, sản lượng công nghiệp phục hồi vượt mức trước chiến tranh. Tuy nhiên, năm
1927,
cuộc khủng hoảng tài chính ở Tô-ki-ô làm cho hàng chục ngân hàng phải đóng cửa, số
công nhân thất nghiệp tăng mạnh, nông dân bị bần cùng hoá, sức mua của người dân giảm
sút.
8
Hình 3.3. Thành phố Ô-xa-ca vào những năm 20 của thế kỉ XX
? Nêu những nét chính về tình hình Nhật Bản trong những năm 1918 – 1929.
b) Nhật Bản trong những năm 1929 - 1945
Cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới 1929-1933 đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế
Nhật Bản.
So với năm 1929, năm 1931, sản lượng công nghiệp giảm 32,5%, ngoại thương
giảm 80%, khoảng 3 triệu người thất nghiệp. Cuộc đại suy thoái làm cho mâu thuẫn xã hội
ngày càng gay gắt. Năm 1929 có 276 cuộc bãi công nổ ra, đến năm 1931 đã có gần 1.000
cuộc bãi công.
Để đưa đất nước ra khỏi đại suy thoái, Chính phủ Nhật Bản tăng cường chính sách
quân sự hoá bộ máy nhà nước, gây chiến tranh xâm lược, bành trướng ra bên ngoài.
Ngay từ năm 1927, Thủ tướng Ta-na-ca đã đệ trình lên Nhật hoàng bản Tấu trình,
đề ra kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới. Tháng 9 – 1931, Nhật Bản xâm chiếm vùng
Đông Bắc Trung Quốc, đánh dấu việc hình thành “lò lửa chiến tranh” ở châu Á – Thái
Bình Dương.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu diễn ra, Nhật Bản cũng ráo riết chuẩn bị
chiến tranh. Tháng 9 – 1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương. Tháng 12 – 1941, Nhật Bản
bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ ở Trân Châu cảng (quần đảo Ha-oai). Quân đội Nhật Bản
xâm lược các nước Đông Nam Á khác, tiến đánh nhiều đảo thuộc châu Á – Thái Bình
Dương, Tuy nhiên, đến ngày 15 – 8 – 1945, Nhật Bản phải chấp nhận đầu hàng không
điều kiện trước quân Đồng minh.
Tình hình Nhật Bản trong những năm 1929 – 1945 có điểm gì nổi bật?
2. Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á từ năm 1918 đến năm 1945
a) Khái quát
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã tác động đến nhiều nước châu Á.
Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc dâng cao và lan rộng khắp các khu vực: Đông
Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á.
Phong trào đấu tranh giành độc lập ở châu Á giai đoạn này diễn ra theo hai khuynh
hướng chính: dân chủ tư sản (tiêu biểu là Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a,....) và vô sản (tiêu biểu là
Trung Quốc, Việt Nam,...).
Ở Ấn Độ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại, dứng đầu là M. Gan-di, nhân dân đã
đấu tranh đòi quyền độc lập, tẩy chay hàng hoá của Anh và phát triển nền kinh tế dân tộc.
Ở Mông Cổ, trong những năm 1921 - 1924 đã diễn ra phong trào giải phóng dân
tộc, dẫn tới sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ.
Hình 3.4. M. Gan-đi (1869-1948)
Ở Thổ Nhĩ Kỳ, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trong những năm 1919 – 1922
đã đưa đến sự thành lập nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ.
9
? Nếu những nét chính về phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á từ năm
1918
đến năm 1945.
b) Cách mạng Trung Quốc trong những năm 1919 – 1945
Phong trào Ngũ tứ bùng nổ ngày 4 – 5 – 1919, mở đầu là cuộc biểu tình của 3 000
sinh viên yêu nước ở Bắc Kinh chống lại âm mưu xâu xé Trung Quốc của các nước đế
quốc. Phong trào đã nhanh chóng lan rộng ra cả nước, lôi cuốn đông đảo công nhân, nông
dân, trí thức yêu nước tham gia.
Tháng 7 – 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập.
Trong những năm 1927 - 1937, nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng nhằm lật đổ nền thống trị của tập đoàn
Quốc dân đảng - đại diện cho quyền lợi của đại địa chủ, đại tư sản và đế quốc ở Trung
Quốc.
Tháng 7 -1937, Nhật Bản mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính toàn
bộ Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chủ động đề nghị
Quốc dân đảng đình chiến, cùng hợp tác chống Nhật. Cách mạng Trung Quốc chuyển sang
thời kì Quốc – Cộng hợp tác để cùng kháng chiến chống Nhật Bản.
Hình 3.5. Sinh viên Bắc Kinh biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn trong phong trào
Ngũ tứ
Nêu những nét chính về phong trào cách mạng Trung Quốc trong những năm 1919 - 1945.
c) Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á trong những năm
1918-1945
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp vô sản ở các nước Đông Nam Á từng
bước trưởng thành, đã tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng.
Trong giai đoạn này, một số Đảng Cộng sản được thành lập như: Đảng Cộng sản Inđô-nê-xi-a (5 - 1920), Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930), các Đảng Cộng sản Mã
Lai và Xiêm (4 - 1930), Đảng Cộng sản Phi-líp-pin (11 - 1930).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động một số nước đã bùng nổ. Nổi bật là cuộc
khởi nghĩa tại Gia-va và Xu-ma-tơ-ra (1926 – 1927) ở In-đô-nê-xi-a và cao trào Xô viết
Nghệ – Tỉnh (1930 – 1931) ở Việt Nam. Những cuộc nổi dậy này đều bị chính quyền thực
dân đàn áp đẫm máu.
Cùng với sự phát triển của phong trào vô sản, phong trào dân chủ tư sản cũng có
bước tiến rõ rệt so với những năm đầu thế kỉ XX.
Nếu như trước đây mới chỉ xuất hiện các nhóm, phái hoặc các hội do những nhà yêu
nước sáng lập, thì đến giai đoạn này đã xuất hiện các chính đảng có tổ chức và ảnh hưởng
xã hội rộng lớn như: Đảng Dân tộc ở In-đô-nê-xi-a, Phong trào Tha-kin ở Miến Điện, Liên
minh Thanh niên Ma-lay-a ở Mã Lai,...
10
Ở Đông Dương, cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp được tiến hành dưới nhiều
hình thức phong phú với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Ở Lào, nhiều bộ tộc đã tham gia phong trào chống thực dân Pháp, tiêu biểu là cuộc
khởi nghĩa do Ong Kẹo và Com-ma-đam lãnh đạo kéo dài hơn 30 năm (1901 – 1937).
Ở Cam-pu-chia, các cuộc đấu tranh yêu nước liên tiếp nổ ra trong những năm 1918
– 1920, 1926,... đặc biệt là phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản do nhà sư
A-cha Hem-chiêu đứng đầu trong những năm 1930 – 1935.
Ở Việt Nam, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp phát triển mạnh mẽ, nhất là
sau khi Đảng Cộng sản được thành lập.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở
Đông Nam Á phát triển mạnh mẽ. Năm 1940, quân phiệt Nhật Bản xâm lược các nước
Đông Nam Á. Năm 1945, lợi dụng thời cơ Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, phong trào giai
phóng dân tộc đã giành thắng lợi ở một số nước.
?. Nêu những nét chính về phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á
trong
những năm 1918 – 1945.
Luyện tập – Vận dụng
1. Hãy lập bảng hệ thống những nét chính về tình hình châu Á từ năm 1918 đến năm 1945.
2. Trình bày những biểu hiện chứng tỏ sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở
châu Á sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Sưu tầm tư liệu từ sách, báo và internet, hãy tìm một số sự kiện trong những năm 1939 –
1945 thể hiện mối liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Việt Nam – Lào – Cam-puchia và giới thiệu với bạn.
Bài 4 CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939-1945)
Học xong bài này, em sẽ:
- Trình bày được nguyên nhân và diễn biến chủ yếu của Chiến tranh thế giới thứ hai.
- Phân tích được hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai đối với lịch sử nhân loại.
- Nếu được nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, vai trò của Liên Xô và các nước Đồng
minh trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít.
Hai hình dưới đây gợi cho em liên tưởng đến sự kiện nào của thế giới trong thế kỉ XX?
Hãy chia sẻ những hiểu biết của em về nguyên nhân, diễn biến, hậu quả của sự kiện đó.
Hình 4.1, Quân Đức tấn công Ba Lan (9 - 1939)
11
Hình 4.2. Hồng quân Liên Xô cắm cờ trên nóc toà nhà Quốc hội Đức (1945)
1. Nguyên nhân dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, những mâu thuẫn về thị trường và thuộc địa tiếp
tục nảy sinh giữa các nước đế quốc. Đặc biệt, cuộc đại suy thoái kinh tế 1929 - 1933 đã
làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Chính những điều đó dẫn tới sự
hình thành chủ nghĩa phát xít và quân phiệt ở Đức và Nhật Bản. Cùng với I-ta-li-a, các thế
lực này là thủ phạm gây ra chiến tranh.
Trên thế giới hình thành hai khối đế quốc đối địch nhau: khối các nước tư bản dân
chủ gồm Anh, Pháp, Mỹ và khối phát xít gồm Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản. Tuy nhiên, cả hai
khối đế quốc này cùng có chung mâu thuẫn với Liên Xô.
Liên Xô coi chủ nghĩa phát xít là kẻ thù nguy hiểm nhất nên chủ trương liên kết với
các nước tư bản để chống phát xít và nguy cơ chiến tranh. Chính phủ các nước Anh, Pháp,
Mỹ một mặt lo sợ sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít, mặt khác lại thù ghét chủ nghĩa
cộng sản. Vì thế, giới cầm quyền các nước này đã dẩy Đức chống Liên Xô.
? Hãy trình bày nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai.
2. Diễn biến chính và hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai
a) Diễn biến chính
Giai đoạn I: Chiến tranh bùng nổ và lan rộng khắp thế giới (từ ngày 1 – 9 – 1939 đến
tháng 11 – 1942)
- Ngày 1 – 9 – 1939, Đức tấn công Ba Lan. Ngày 3 - 9 - 1939, Anh, Pháp tuyên chiến với
Đức, Chiến tranh thế giới bắt đầu.
- Từ tháng 4 đến tháng 7 – 1940, Đức đánh chiếm Pháp, tấn công Anh.
- Mùa hè 1941, Đức chiếm hầu hết các nước tư bản châu Âu.
- Ngày 22 – 6 - 1941, Đức tấn công Liên Xô trên dọc tuyến biên giới phía tây. Đến tháng
10, Đức uy hiếp Thủ đô Mát-xcơ-va.
- Tháng 12 – 1941, Nhật Bản tấn công căn cứ Trân Châu cảng của Mỹ ở Thái Bình
Dương, Mỹ chính thức tham gia vào chiến tranh. Chiến tranh lan rộng toàn thế giới.
- Tháng 1 - 1942, Mặt trận Đồng minh chống phát xít được thành lập với ba trụ cột là Liên
Xô, Mỹ, Anh.
Hình 4. 3. Lược đồ quân Đức đánh chiếm châu Âu (1939 – 1941)
12
Giai đoạn II: Quân Đồng minh chuyển sang phản công, chiến tranh kết thúc (từ tháng 11
– 1942 đến tháng 8 - 1945)
Từ tháng 11 - 1942 đến tháng 2 – 1943, Liên Xô phản công và giành thắng lợi trước
quân phát xít tại thành phố Xta-lin-grát, tạo nên bước ngoặt của cuộc chiến tranh; từ phòng
ngự chuyển sang phản công.
Hình 4. 4. Hồng quân Liên Xô truy kích quân phát xít ở thành phố Xta-lin-grát
Tháng 6 - 1944, liên quân Mỹ, Anh và Đồng minh đổ bộ vào Noóc-măng-đi (Bắc
Pháp), mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu, giải phóng nước Pháp.
Ngày 16 – 4 – 1945, quân đội Liên Xô mở chiến dịch công phá Béc-lin (Đức). Ngày
9 – 5 – 1945, Đức kí văn kiện đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Chiến tranh kết thúc
ở châu Âu.
Ngày 6 và ngày 9 – 8 – 1945, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hirô-si-ma và Na-ga-sa-ki của Nhật Bản.
Hình 4. 5. Quân Đồng minh đổ bộ tấn công Noóc-măng-đi (Pháp)
Ngày 8 – 8 – 1945, Liên Xô mở cuộc tấn công quân Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc,
Ngày 15 – 8 – 1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc.
Trình bày diễn biến chính của Chiến tranh thế giới thứ hai.
b. Hậu quả của chiến tranh
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa phát xít
Tuy nhiên, cuộc chiến tranh này đã gây ra những hậu quả vô cùng nặng nề: nền kinh tế thế
giới bị thiệt hại; nhiều thành phố, làng mạc, cơ sở sản xuất công nghiệp bị tàn phá.
BẢNG THỐNG KÊ HẬU QUẢ CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
13
Danh mục thống kê
Số liệu
Số nước tham chiến
76
Số người gia nhập quân đội (triệu người)
110
Số người chết vì chiến tranh (triệu người)
60
Số người bị thương (triệu người)
90
Thiệt hại về vật chất (tỉ đô la Mỹ)
4 000
Chi phí quân sự trực tiếp (tỉ đô la Mỹ)
1 384
Phân tích hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai đối với lịch sử nhân loại.
3. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, vai trò của Liên Xô và các nước Đồng
minh trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít
a. Nguyên nhân thắng lợi:
Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh phi nghĩa do phe phát xít gây ra –
“kẻ gieo gió phải gặt bão”, đồng thời là cuộc chiến tranh chính nghĩa của phe Đồng minh,
của các dân tộc bị phát xít chiếm đóng và của các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới.
Các dân tộc, toàn thể nhân loại tiến bộ luôn đoàn kết, kiên cường, sát cánh cùng lực
lượng Đồng minh chiến đấu vì nền hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội...
Tinh thần chiến đấu và ý chí kiên cường của quân đội các nước Đồng minh, đặc biệt
là của Hồng quân Liên Xô là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi.
Hình 4.6. Tượng dài vinh danh chiến sĩ Hồng quân ở thành phố Béc-lin (Đức)
b. Ý nghĩa: Thắng lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh đã giúp nhân loại thoát khỏi
thảm hoạ của chủ nghĩa phát xít, tạo nên bước chuyển biến căn bản của tình hình thế giới
sau chiến tranh: sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, tương quan giữa các
nước tư bản chủ nghĩa thay đổi,...
Chiến thắng chủ nghĩa phát xít đã tạo điều kiện cho phong trào giải phóng dân tộc,
phong trào vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội phát triển.
c. Vai trò của Liên Xô và các nước Đồng minh trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít:
Liên Xô, Mỹ, Anh là lực lượng đi đầu, giữ vai trò trụ cột, quyết định thắng lợi,
trong đó Liên Xô có vai trò quyết định nhất.
1. Vì sao phát xít Đức, I-ta-li-a và quân phiệt Nhật Bản bị tiêu diệt trong Chiến tranh thế
giới thứ hai?
2. Thắng lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai có ý
nghĩa lịch sử như thế nào?
3. Liên Xô và các nước Đồng minh có vai trò như thế nào trong việc tiêu diệt chủ nghĩa
phát xít?
Luyện tập – Vận dụng
1. Vẽ trục thời gian thể hiện những sự kiện chính của Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 –
1945).
2. Dựa vào thông tin trong bài học, hãy đánh giá vai trò của Liên Xô và các nước Đồng
minh trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít và nêu dẫn chứng.
Liên hệ và cho biết: Chiến tranh thế giới thứ hai đã để lại những bài học gì cho việc bảo vệ
hoà bình thế giới hiện nay?
CHƯƠNG 2 VIỆT NAM TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 1945
Bài 5 PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1918 - 1930
Học xong bài này, em sẽ:
Mô tả được những nét chính của phong trào dân tộc dân chủ những năm 1918 –
1930.
14
Trong những thập kỉ đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước, cách mạng của nhân dân
Việt Nam tiếp tục rơi vào "tình hình đen tối như không có đường ra" Hãy nêu những hiểu
biết của em về hoạt động đấu tranh của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam từ
năm 1918 đến năm 1930. Theo em, vì sao phong trào dân tộc dân chủ ở giai đoạn này dù
diễn ra sôi nổi nhưng vẫn chưa thành công?
Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của tư bản Pháp được tiến hành ở Đông
Dương đã đưa tới nhiều biến đổi quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Việt
Nam. Trên thế giới, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và sự ra đời của
Quốc tế Cộng sản (1919) đã tác động to lớn đến phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, cũng như phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc.
Bối cảnh lịch sử mới đã thúc đẩy phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam phát triển
với những hình thức và nội dung phong phú.
1. Hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở nước n...
Bài 1 NƯỚC NGA VÀ LIÊN XÔ TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 1945
Học xong bài này, em sẽ:
- Nêu được những nét chính về nước Nga trước khi Liên Xô được thành lập.
- Trình bày được những thành tựu và chỉ ra được những hạn chế của công cuộc xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô.
Hình bên là nhà máy thuỷ điện lớn nhất của châu Âu vào những năm 30 của thế kỉ XX –
một trong những thành tựu tiêu biểu về kinh tế của công cuộc xây dựng chủ nghĩa ở Liên
Xô. Không chỉ vậy, Liên Xô còn đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trên các lĩnh vực khác.
Hãy chia sẻ thêm một số thành tựu của Liên Xô mà em biết.
Hình 1.1. Nhà máy Eni-ép được khởi công xây dựng năm 1927
1. Nước Nga Xô viết từ năm 1918 đến năm 1922
Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười năm 1917, quân đội 14 đế quốc (Anh,
Pháp, Mỹ, Nhật Bản,...) đã câu kết với các thế lực phản cách mạng trong nước mở cuộc
tấn công vũ trang vào nước Nga Xô viết.
Suốt ba năm (1918 – 1920), nước Nga phải tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng
chống thù trong, giặc ngoài trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ. Từ năm
1919 với việc thực hiện Chính sách cộng sản thời chiến (quốc hữu hoá toàn bộ các xí
nghiệp, trưng thu lương thực thừa của nông dân, thi hành chế độ lao động bắt buộc,...),
Nhà nước Xô viết đã kiểm soát được các ngành kinh tế then chốt như: ngân hàng, đường
sắt, ngoại thương, hầm mỏ,…
Cuối năm 1920, Hồng quân đã đánh tan giặc ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính
quyền cách mạng. Nhà nước Xô viết đã xoá bỏ những bất công trong xã hội, thực hiện
quyền tự do dân chủ, quyền tự quyết của các dân tộc.
Tháng 3 - 1921, Đảng Bôn-sê-vích quyết định thực hiện Chính sách kinh tế mới
(NEP) do Lê-nin đề xướng, Nhờ vậy, nước Nga Xô viết đã từng bước vượt qua khủng
hoảng, phục hồi kinh tế và đời sống nhân dân được cải thiện.
1
Hình 1.2. Lược đồ nước Nga Xô viết chống thủ trong, giặc ngoài (1918 – 1920)
Nội dung cơ bản của Chính sách kinh tế mới là bãi bỏ chế độ trưng thu lương thực
thừa và thay thể bằng chính sách thu thuế lương thực (sau khi nộp dù thuế, nông dân được
toàn quyền sử dụng số lương thực dư thừa); thực hiện tự do buôn bán, cho phép tư nhân
được mở các xí nghiệp nhỏ, khuyến khích tư bản nước ngoài đầu tư kinh doanh ở Nga,..
Hình 1.3. Thành phố Mát-xcơ-va trong những năm 20 của thế kỉ XX
? Nêu những nét chính về tình hình nước Nga Xô viết từ năm 1918 đến năm 1922.
2. Liên Xô từ năm 1922 đến năm 1945
Tháng 12 - 1922, Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết được thành lập (còn
gọi là Liên Xô), gồm 4 nước Cộng hoà Xô viết là Nga, U-crai-na, Bé-lô-rút-xi-a và Ngoại
Cáp-ca-dơ. Đến năm 1940, Liên Xô bao gồm 15 nước cộng hoà.
Nhờ sự nỗ lực của các nước cộng hoà, từ năm 1922 đến năm 1945, Liên Xô đã đạt
được nhiều thành tựu trong xây dựng chủ nghĩa xã hội trên tất cả các lĩnh vực.
Về kinh tế: Sau khi hoàn thành công cuộc khôi phục kinh tế, tháng 12 – 1925, Đại
hội của
Hình 1.4. V.I. Lê-nin – người sáng lập Nhà nước Xô viết
Đảng Bôn-sê-vích đã xác định đường lối và nhiệm vụ cơ bản để thực hiện công
nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đặt trọng tâm là phát triển công nghiệp nặng.
Trải qua hai kế hoạch 5 năm (1928 – 1932, 1933 – 1937) xây dựng chủ nghĩa xã
hội, Liên Xô đã trở thành một cường quốc công nghiệp.
Sản xuất công nghiệp đã chiếm hơn 70% tổng sản phẩm kinh tế quốc dân. Sản
lượng công nghiệp của Liên Xô đứng đầu châu Âu và đứng thứ hai thế giới (sau Mỹ).
2
BẢNG SẢN LƯỢNG MỘT SỐ SẢN PHẨM CÔNG NGHIỆP CỦA LIÊN XÔ TRONG
NHỮNG NĂM 1928 - 1940
(Theo The World in Crisis (Thế giới trong thời Khủng hoảng), Quyển 2, NXB Pi-ơ-sơn, 2013, tr. 48)
Năm
1928
1932
1940
Sản phẩm
Thép (triệu tấn)
4
6
18
Dầu (triệu tấn)
12
21
26
Điện (tỉ KWh)
5
13
90
Công cuộc tập thể hoá nông nghiệp hoàn thành với quy mô sản xuất lớn.
Về xã hội, văn hoá, giáo dục: Cơ cấu giai cấp trong xã hội có sự thay đổi căn bản.
Các giai cấp bóc lột bị xoá bỏ, chỉ còn lại hai giai cấp lao động là công nhân và nông dân
tập thể,
cùng tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa.
Liên Xô đã xoá được nạn mù chữ, xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất, hoàn
thành phổ cập Trung học cơ sở ở các thành phố. Các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học
xã hội, văn học - nghệ thuật cũng đạt được nhiều thành tựu to lớn.
Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô cũng đã bộc lộ một số hạn chế,
thiếu sót như: nóng vội, thiếu dân chủ trong quá trình tập thể hoá nông nghiệp, chưa chú
trọng đúng mức đến việc nâng cao đời sống nhân dân,...
Tháng 6 - 1941, phát xít Đức tấn công Liên Xô, nhân dân Liên Xô phải tạm dừng
thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ ba (được triển khai từ năm 1937) để tiến hành cuộc
chiến tranh giữ nước vĩ đại (1941 – 1945).
1. Hãy trình bày những thành tựu tiêu biểu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
Liên Xô (1925 – 1941).
2. Hãy cho biết một số hạn chế của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (trước
năm 1941).
Luyện tập - Vận dụng
Hoàn thành bảng (theo gợi ý dưới đây vào vở) về những thành tựu tiêu biểu và hạn chế
trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (trước năm 1941).
Lĩnh vực
Thành tựu tiêu biểu
Han chế
Chính trị
?
?
Kinh tế
?
?
Xã hội, văn hoá, giáo dục
?
?
Tìm hiểu thông tin trên sách, báo và internet, viết đoạn văn ngắn giới thiệu về một thành
tựu của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô (1925 – 1941) mà em ấn tượng
nhất.
Bài 2 CHÂU VÀ NƯỚC MỸ TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 194
Học xong bài này, em sẽ:
- Trình bày được những nét chính về: phong trào cách mạng và sự thành lập Quốc tế Cộng
sản; đại suy thoái kinh tế 1929 - 1933; sự hình thành chủ nghĩa phát xít ở châu.
- Nhận biết được tình hình chính trị và sự phát triển kinh tế nước Mỹ giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới.
3
Hình 2.1. Những chiếc xe hơi được rao bán với giá 100 USD trong đại suy thoái kinh tế
(Mỹ, 1929)
Hình 2.2. Tổng thống Hin-den-bua trao quyền thủ tướng cho Hít-le (Đức, 1933)
Trong những năm 1918 – 1945, lịch sử châu và nước Mỹ đã trải qua những bước
phát triển thăng trầm, đầy biến động trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Em
biết gì về những biến động đó thông qua hai hình trên? Sự ra đời của Quốc tế Cộng sản,
đại suy thoái kinh tế thế giới (1929 – 1933) và sự xuất hiện chủ nghĩa phát xít có liên quan
gì đến tình hình đó?
1. Phong trào cách mạng (1918 – 1923) và sự thành lập Quốc tế Cộng sản (1919)
a) Phong trào cách mạng ở các nước tư bản châu Âu.
Do hậu quả nặng nề của Chiến tranh thế giới thứ nhất và tác động của Cách mạng
tháng Mười Nga năm 1917, vào những năm 1918 – 1923, một phong trào cách mạng đã
bùng nổ ở hầu khắp các nước tư bản châu Âu.
Ở Đức, ngày 9 – 11 – 1918, công nhân và các tầng lớp nhân dân ở Béc-lin đã tổng
bãi công, sau đó chuyển thành khởi nghĩa vũ trang với sự tham gia của cả binh lính đã lật
đổ
Hình 2.3. Nhân dân tập trung trước toà nhà Rây-xtác (Đức) trong buổi tuyên bố thành lập
chính phủ mới (1918)
chế độ quân chủ. Sau đó, chính quyền rơi vào tay giai cấp tư sản, chế độ cộng hoà tư sản ở
Đức được thiết lập. Tháng 12 – 1918, Đảng Cộng sản Đức được thành lập. Trong những
năm 1919 – 1923, phong trào cách mạng chống lại giai cấp tư sản vẫn tiếp diễn nhưng thất
bại.
Phong trào cách mạng cũng phát triển mạnh ở các nước châu Âu như: Hung-ga-ri,
Anh, Pháp,...
Ở Anh, từ năm 1919 đến năm 1921, đã có tới 6,5 triệu người bãi công. Công nhân
không những dưa ra yêu sách kinh tế mà còn dưa ra yêu sách về chính trị.
4
Ở Pháp, phong trào bãi công của công nhân chuyển thành cao trào cách mạng, với
cuộc tổng bãi công lớn nhất nổ ra nhân ngày Quốc tế Lao động (1 - 5 - 1920) lôi cuốn hơn
1 triệu người tham gia và kéo dài suốt một tuần lễ.
Qua phong trào, nhiều Đảng Cộng sản được thành lập như: Đảng Cộng sản Hungga-ri (1918), Đảng Cộng sản Pháp (1920), Đảng Cộng sản Anh (1920), Đảng Cộng sản
Ita-li-a (1921),..
Em có biết?
Ở I-ta-li-a, tính riêng năm 1919, đã có hơn 1.600 cuộc bãi công với hơn 1 triệu
người tham gia. Phong trào đấu tranh của công nhân đạt tới đỉnh điểm vào năm 1920, khi
chuyển thành phong trào chiếm công xưởng, thành lập các “Đội cận vệ đỏ” để bảo vệ công
xưởng.
Trình bày những nét chính về phong trào cách mạng ở các nước tư bản châu Âu từ năm
1918 đến năm 1923.
b) Sự thành lập Quốc tế Cộng sản
Sự phát triển của phong trào cách mạng đòi hỏi phải có một tổ chức quốc tế để lãnh
đạo. Tháng 3 – 1919, với những hoạt động tích cực của V. I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích
Nga, Quốc tế Cộng sản (còn gọi là Quốc tế thứ ba) được thành lập ở Mát-xcơ-va.
Trong thời gian tồn tại (1919 – 1943), Quốc tế Cộng sản đã tiến hành 7 kì đại hội,
đề ra đường lối cho từng thời kì phát triển của cách mạng thế giới, trở thành tổ chức quốc
tế của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới.
Tại Đại hội lần thứ II (1920), Quốc tế Cộng sản thông qua Sơ thảo lần thứ nhất
những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa do V. I. Lê-nin dự thảo với khẩu
hiệu: “Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại”. Nguyễn Ái Quốc đã tìm
thấy ở Luận cương con dường cứu nước, giải phóng dân tộc cho nhân dân Việt Nam.
Năm 1943, do sự thay đổi của tình hình thế giới, Quốc tế Cộng sản tuyên bố tự giải
tán.
Trình bày sự thành lập và một số hoạt động chính của Quốc tế Cộng sản.
2. Cuộc đại suy thoái kinh tế (1929 – 1933) và sự hình thành chủ nghĩa phát xít
Trong những năm 1924 – 1929, kinh tế ở các nước tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh
mẽ, sản xuất tăng lên nhanh chóng. Nhưng do sản xuất ồ ạt, nhu cầu và sức mua của thị
trường không có sự tăng lên tương ứng, làm cho hàng hoá trở nên ế thừa và dẫn tới suy
thoái trong sản xuất. Vì thế, đời sống của đa số nhân dân không được cải thiện. Đó là
những nguyên nhân dẫn tới cuộc đại suy thoái kinh tế.
Tháng 10 - 1929, cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ, sau đó lan rộng ra toàn
thế giới tư bản chủ nghĩa, diễn ra trên tất cả các lĩnh vực (tài chính, công nghiệp, nông
nghiệp, thương nghiệp), kéo dài gần 4 năm, trầm trọng nhất là năm 1932.
Cuộc đại suy thoái đó đã tàn phá nặng nề nền kinh tế và gây ra những hậu quả
nghiêm trọng về mặt xã hội ở các nước tư bản chủ nghĩa.
Tư liệu. Số công nhân thất nghiệp đã lên tới 50 triệu người... Hàng triệu nông dân bị mất
ruộng đất, sống trong cảnh nghèo đói... Trong bối cảnh đó, phong trào cách mạng thế giới
đã có bước chuyển biển mới: thoái trào tiến dẫn lên cao trào... Theo thống kê không đầy
đủ, từ năm 1928 đến cuối năm 1933, số người tham gia bãi công ở các nước tư bản chủ
nghĩa lên tới 17 triệu.
(Theo Nguyễn Anh Thái (Chủ biên), Lịch sử thế giới hiện đại, NXB Giáo dục Việt Nam,
2011, tr. 99)
5
Hình 2.4. Dòng người thất nghiệp ở Hà Lan trong đại suy thoái kinh tế
Để thoát khỏi đại suy thoái, các nước Anh, Pháp,... có nhiều thuộc địa, vốn và thị
trường nên tiến hành những cuộc cải cách kinh tế – xã hội. Trong khi đó, các nước Đức, Ita-li-a, không có hoặc có ít thuộc địa nên ngày càng thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, thị
trường, đã đi theo con đường phát xít hoá, thiết lập chế độ độc tài, phát động chiến tranh
để phân chia lại thế giới.
Ở Đức, để đối phó lại đại suy thoái kinh tế và phong trào cách mạng ngày càng dâng
cao, giai cấp tư sản cầm quyền quyết định đưa Hit-le lên làm Thủ tướng (1 - 1933). Nước
Đức trở thành một “lò lửa chiến tranh”.
Ở I-ta-li-a, một “lò lửa chiến tranh” khác cũng xuất hiện. Do Chính phủ không thoả
mãn với việc phân chia lại thế giới theo Hoà ước Véc-xai nên đã bành trướng thể lực và
tiến hành xâm chiếm thuộc địa ở châu Phi, khu vực Địa Trung Hải,..
1. Khai thác tư liệu và thông tin trong mục, hãy trình bày nguyên nhân và biểu hiện của
cuộc đại suy thoái kinh tế trong những năm 1929 – 1933.
2. Sự hình thành chủ nghĩa phát xít ở châu Âu diễn ra như thế nào?
3. Nước Mỹ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới
a. Tình hình chính trị
Về đối nội: Trong những năm 20 của thế kỉ XX, Đảng Cộng hoà liên tục nắm chính
quyền, đề cao sự phồn vinh của nền kinh tế, ngăn chặn các cuộc đấu tranh của công nhân,
đàn áp những người có tư tưởng tiến bộ,...
Năm 1930, Đảng Dân chủ giành thắng lợi trong cuộc bỏ phiếu bầu Quốc hội Mỹ.
Năm 1932, ứng cử viên Đảng Dân chủ là Ph. Ru-dơ-ven được bầu làm Tổng thống.
Về đối ngoại: Trong những năm 20 của thế kỉ XX, giới cầm quyền Mỹ theo đuổi
lập trường chống Liên Xô, tiếp tục thực hiện học thuyết Mơn-rô (châu Mỹ của người châu
Mỹ) để bành trướng, thậm chí can thiệp về quân sự khi cần thiết đối với khu vực Mỹ Latinh.
Hình 2.5. Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven tuyên bố nhậm chức (1933)
Từ năm 1933, Chính phủ của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã công nhận và đặt quan
hệ ngoại giao với Liên Xô, thực hiện chính sách “láng giềng thân thiện” đối với các nước
Mỹ La-tinh.
b) Sự phát triển kinh tế
6
Chiến tranh thế giới thứ nhất đã đem lại cơ hội vàng cho sự phát triển kinh tế nước
Mỹ, đưa nền kinh tế nước này bước vào thời kì "hoàng kim" trong những năm 20 của thế
kỉ XX.
Chỉ trong vòng 6 năm (1923 – 1929) sản lượng công nghiệp Mỹ tăng 69%. Năm
1929, Mỹ chiếm 48% sản lượng công nghiệp thế giới, đứng đầu thế giới về ngành công
nghiệp sản xuất ô tô, thép và dầu mỏ.
Cuộc đại suy thoái kinh tế bùng nổ ở Mỹ (10 – 1929), bắt đầu từ lĩnh vực tài chính,
rồi nhanh chóng lan rộng ra các lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp, khiến nền kinh tế,
tài chính Mỹ bị chấn động dữ dội.
Để đưa nước Mỹ thoát ra khỏi cuộc đại suy thoái, Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven đã
thực hiện Chính sách mới.
Chính sách mới bao gồm các biện pháp nhằm giải quyết nạn thất nghiệp, phục hồi
sự phát triển của các ngành kinh tế – tài chính, cải tổ hệ thống ngân hàng, tạo thêm nhiều
việc làm mới và ổn định tình hình xã hội.
Hình 2.6. Cuộc mít tinh của những người thất nghiệp ở Mỹ (1931)
Chính sách mới đã cứu nguy cho chủ nghĩa tư bản Mỹ, góp phần làm cho nước Mỹ
duy trì được chế độ dân chủ tư sản, tình hình chính trị, xã hội dần dần được ổn định.
Hình 2.7. Bức tranh đương thời mô tả Chính sách mới của Mỹ (người khổng lồ tượng
trưng cho Nhà nước)
2. Trình bày những nét lớn về tình hình chính trị, kinh tế của nước Mỹ giữa hai cuộc chiến
tranh thế giới.
Luyên tập - Vận dụng
1. Lập sơ đồ tư duy về những nét chính của tình hình châu Âu và nước Mỹ giữa hai cuộc
chiến tranh thế giới.
2. Nêu nhận xét của em về con đường thoát khỏi đại suy thoái của các nước tư bản châu
Âu và nước Mỹ.
Tìm hiểu thông tin trên sách, báo và internet, viết đoạn văn ngắn giới thiệu về Chính sách
mới của Tổng thống Ph. Ru-dơ-ven nhằm đưa nước Mỹ thoát khỏi cuộc đại suy thoái kinh
tế.
7
Bài 3 CHÂU Á TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 1945
Học xong bài này, em sẽ:
- Nêu được những nét chính về tình hình châu Á từ năm 1918 đến năm 1945.
Hình 3.1. Quân Nhật tiến vào chiếm đóng vùng Đông Bắc Trung Quốc (1931)
Hình 3.2. M. Gan-đi và người dân Ấn Độ tuần hành chống thực dân Anh độc quyền muối
(1930)
Hai hình trên phản ánh tình hình trái ngược ở châu Á trong thời gian giữa hai cuộc
chiến tranh thế giới (1918 – 1939). Trong khi Nhật Bản tăng cường chiến tranh xâm lược
thì ở hầu hết các nước còn lại như Ấn Độ, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á đã bùng
nổ các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Vì sao như vậy? Những biểu hiện nào chứng
tỏ điều đó?
1. Nhật Bản từ năm 1918 đến năm 1945
a) Nhật Bản trong những năm 1918 - 1929
Nhờ hưởng lợi từ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, nền kinh tế Nhật Bản phát
triển nhanh chóng sau chiến tranh. Tuy nhiên, sự phát triển đó chỉ kéo dài trong 18 tháng.
Đến những năm 1920 - 1921, nền kinh tế Nhật Bản sa sút, nhiều công ty làm ăn thua
lỗ, nhiều nhà kinh doanh bị phá sản, số người thất nghiệp lên tới 12 vạn người. Đời sống
người lao động không được cải thiện, phong trào đấu tranh của công nhân và nông dân
bùng lên mạnh mẽ. Tháng 7 - 1922, Đảng Cộng sản Nhật Bản được thành lập và trở thành
lực lượng lãnh đạo phong trào công nhân.
Vào những năm 1924 – 1929, kinh tế Nhật Bản phát triển nhưng không ổn định.
Năm 1926, sản lượng công nghiệp phục hồi vượt mức trước chiến tranh. Tuy nhiên, năm
1927,
cuộc khủng hoảng tài chính ở Tô-ki-ô làm cho hàng chục ngân hàng phải đóng cửa, số
công nhân thất nghiệp tăng mạnh, nông dân bị bần cùng hoá, sức mua của người dân giảm
sút.
8
Hình 3.3. Thành phố Ô-xa-ca vào những năm 20 của thế kỉ XX
? Nêu những nét chính về tình hình Nhật Bản trong những năm 1918 – 1929.
b) Nhật Bản trong những năm 1929 - 1945
Cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới 1929-1933 đã giáng một đòn nặng nề vào kinh tế
Nhật Bản.
So với năm 1929, năm 1931, sản lượng công nghiệp giảm 32,5%, ngoại thương
giảm 80%, khoảng 3 triệu người thất nghiệp. Cuộc đại suy thoái làm cho mâu thuẫn xã hội
ngày càng gay gắt. Năm 1929 có 276 cuộc bãi công nổ ra, đến năm 1931 đã có gần 1.000
cuộc bãi công.
Để đưa đất nước ra khỏi đại suy thoái, Chính phủ Nhật Bản tăng cường chính sách
quân sự hoá bộ máy nhà nước, gây chiến tranh xâm lược, bành trướng ra bên ngoài.
Ngay từ năm 1927, Thủ tướng Ta-na-ca đã đệ trình lên Nhật hoàng bản Tấu trình,
đề ra kế hoạch xâm lược và thống trị thế giới. Tháng 9 – 1931, Nhật Bản xâm chiếm vùng
Đông Bắc Trung Quốc, đánh dấu việc hình thành “lò lửa chiến tranh” ở châu Á – Thái
Bình Dương.
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu diễn ra, Nhật Bản cũng ráo riết chuẩn bị
chiến tranh. Tháng 9 – 1940, quân Nhật kéo vào Đông Dương. Tháng 12 – 1941, Nhật Bản
bất ngờ tấn công hạm đội Mỹ ở Trân Châu cảng (quần đảo Ha-oai). Quân đội Nhật Bản
xâm lược các nước Đông Nam Á khác, tiến đánh nhiều đảo thuộc châu Á – Thái Bình
Dương, Tuy nhiên, đến ngày 15 – 8 – 1945, Nhật Bản phải chấp nhận đầu hàng không
điều kiện trước quân Đồng minh.
Tình hình Nhật Bản trong những năm 1929 – 1945 có điểm gì nổi bật?
2. Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á từ năm 1918 đến năm 1945
a) Khái quát
Thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga đã tác động đến nhiều nước châu Á.
Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc dâng cao và lan rộng khắp các khu vực: Đông
Bắc Á, Đông Nam Á, Nam Á và Tây Á.
Phong trào đấu tranh giành độc lập ở châu Á giai đoạn này diễn ra theo hai khuynh
hướng chính: dân chủ tư sản (tiêu biểu là Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a,....) và vô sản (tiêu biểu là
Trung Quốc, Việt Nam,...).
Ở Ấn Độ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Quốc đại, dứng đầu là M. Gan-di, nhân dân đã
đấu tranh đòi quyền độc lập, tẩy chay hàng hoá của Anh và phát triển nền kinh tế dân tộc.
Ở Mông Cổ, trong những năm 1921 - 1924 đã diễn ra phong trào giải phóng dân
tộc, dẫn tới sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Mông Cổ.
Hình 3.4. M. Gan-đi (1869-1948)
Ở Thổ Nhĩ Kỳ, cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc trong những năm 1919 – 1922
đã đưa đến sự thành lập nước Cộng hoà Thổ Nhĩ Kỳ.
9
? Nếu những nét chính về phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở châu Á từ năm
1918
đến năm 1945.
b) Cách mạng Trung Quốc trong những năm 1919 – 1945
Phong trào Ngũ tứ bùng nổ ngày 4 – 5 – 1919, mở đầu là cuộc biểu tình của 3 000
sinh viên yêu nước ở Bắc Kinh chống lại âm mưu xâu xé Trung Quốc của các nước đế
quốc. Phong trào đã nhanh chóng lan rộng ra cả nước, lôi cuốn đông đảo công nhân, nông
dân, trí thức yêu nước tham gia.
Tháng 7 – 1921, Đảng Cộng sản Trung Quốc được thành lập.
Trong những năm 1927 - 1937, nhân dân Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản tiến hành cuộc chiến tranh cách mạng nhằm lật đổ nền thống trị của tập đoàn
Quốc dân đảng - đại diện cho quyền lợi của đại địa chủ, đại tư sản và đế quốc ở Trung
Quốc.
Tháng 7 -1937, Nhật Bản mở rộng cuộc chiến tranh xâm lược nhằm thôn tính toàn
bộ Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chủ động đề nghị
Quốc dân đảng đình chiến, cùng hợp tác chống Nhật. Cách mạng Trung Quốc chuyển sang
thời kì Quốc – Cộng hợp tác để cùng kháng chiến chống Nhật Bản.
Hình 3.5. Sinh viên Bắc Kinh biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn trong phong trào
Ngũ tứ
Nêu những nét chính về phong trào cách mạng Trung Quốc trong những năm 1919 - 1945.
c) Phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á trong những năm
1918-1945
Từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, giai cấp vô sản ở các nước Đông Nam Á từng
bước trưởng thành, đã tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng.
Trong giai đoạn này, một số Đảng Cộng sản được thành lập như: Đảng Cộng sản Inđô-nê-xi-a (5 - 1920), Đảng Cộng sản Việt Nam (đầu năm 1930), các Đảng Cộng sản Mã
Lai và Xiêm (4 - 1930), Đảng Cộng sản Phi-líp-pin (11 - 1930).
Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc
của giai cấp công nhân và nhân dân lao động một số nước đã bùng nổ. Nổi bật là cuộc
khởi nghĩa tại Gia-va và Xu-ma-tơ-ra (1926 – 1927) ở In-đô-nê-xi-a và cao trào Xô viết
Nghệ – Tỉnh (1930 – 1931) ở Việt Nam. Những cuộc nổi dậy này đều bị chính quyền thực
dân đàn áp đẫm máu.
Cùng với sự phát triển của phong trào vô sản, phong trào dân chủ tư sản cũng có
bước tiến rõ rệt so với những năm đầu thế kỉ XX.
Nếu như trước đây mới chỉ xuất hiện các nhóm, phái hoặc các hội do những nhà yêu
nước sáng lập, thì đến giai đoạn này đã xuất hiện các chính đảng có tổ chức và ảnh hưởng
xã hội rộng lớn như: Đảng Dân tộc ở In-đô-nê-xi-a, Phong trào Tha-kin ở Miến Điện, Liên
minh Thanh niên Ma-lay-a ở Mã Lai,...
10
Ở Đông Dương, cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp được tiến hành dưới nhiều
hình thức phong phú với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Ở Lào, nhiều bộ tộc đã tham gia phong trào chống thực dân Pháp, tiêu biểu là cuộc
khởi nghĩa do Ong Kẹo và Com-ma-đam lãnh đạo kéo dài hơn 30 năm (1901 – 1937).
Ở Cam-pu-chia, các cuộc đấu tranh yêu nước liên tiếp nổ ra trong những năm 1918
– 1920, 1926,... đặc biệt là phong trào yêu nước theo xu hướng dân chủ tư sản do nhà sư
A-cha Hem-chiêu đứng đầu trong những năm 1930 – 1935.
Ở Việt Nam, phong trào đấu tranh chống thực dân Pháp phát triển mạnh mẽ, nhất là
sau khi Đảng Cộng sản được thành lập.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở
Đông Nam Á phát triển mạnh mẽ. Năm 1940, quân phiệt Nhật Bản xâm lược các nước
Đông Nam Á. Năm 1945, lợi dụng thời cơ Nhật Bản đầu hàng Đồng minh, phong trào giai
phóng dân tộc đã giành thắng lợi ở một số nước.
?. Nêu những nét chính về phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Đông Nam Á
trong
những năm 1918 – 1945.
Luyện tập – Vận dụng
1. Hãy lập bảng hệ thống những nét chính về tình hình châu Á từ năm 1918 đến năm 1945.
2. Trình bày những biểu hiện chứng tỏ sự phát triển của phong trào giải phóng dân tộc ở
châu Á sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.
Sưu tầm tư liệu từ sách, báo và internet, hãy tìm một số sự kiện trong những năm 1939 –
1945 thể hiện mối liên minh đoàn kết chiến đấu giữa ba nước Việt Nam – Lào – Cam-puchia và giới thiệu với bạn.
Bài 4 CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI (1939-1945)
Học xong bài này, em sẽ:
- Trình bày được nguyên nhân và diễn biến chủ yếu của Chiến tranh thế giới thứ hai.
- Phân tích được hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai đối với lịch sử nhân loại.
- Nếu được nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, vai trò của Liên Xô và các nước Đồng
minh trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít.
Hai hình dưới đây gợi cho em liên tưởng đến sự kiện nào của thế giới trong thế kỉ XX?
Hãy chia sẻ những hiểu biết của em về nguyên nhân, diễn biến, hậu quả của sự kiện đó.
Hình 4.1, Quân Đức tấn công Ba Lan (9 - 1939)
11
Hình 4.2. Hồng quân Liên Xô cắm cờ trên nóc toà nhà Quốc hội Đức (1945)
1. Nguyên nhân dẫn tới Chiến tranh thế giới thứ hai
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, những mâu thuẫn về thị trường và thuộc địa tiếp
tục nảy sinh giữa các nước đế quốc. Đặc biệt, cuộc đại suy thoái kinh tế 1929 - 1933 đã
làm sâu sắc thêm những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản. Chính những điều đó dẫn tới sự
hình thành chủ nghĩa phát xít và quân phiệt ở Đức và Nhật Bản. Cùng với I-ta-li-a, các thế
lực này là thủ phạm gây ra chiến tranh.
Trên thế giới hình thành hai khối đế quốc đối địch nhau: khối các nước tư bản dân
chủ gồm Anh, Pháp, Mỹ và khối phát xít gồm Đức, I-ta-li-a, Nhật Bản. Tuy nhiên, cả hai
khối đế quốc này cùng có chung mâu thuẫn với Liên Xô.
Liên Xô coi chủ nghĩa phát xít là kẻ thù nguy hiểm nhất nên chủ trương liên kết với
các nước tư bản để chống phát xít và nguy cơ chiến tranh. Chính phủ các nước Anh, Pháp,
Mỹ một mặt lo sợ sự bành trướng của chủ nghĩa phát xít, mặt khác lại thù ghét chủ nghĩa
cộng sản. Vì thế, giới cầm quyền các nước này đã dẩy Đức chống Liên Xô.
? Hãy trình bày nguyên nhân dẫn đến Chiến tranh thế giới thứ hai.
2. Diễn biến chính và hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai
a) Diễn biến chính
Giai đoạn I: Chiến tranh bùng nổ và lan rộng khắp thế giới (từ ngày 1 – 9 – 1939 đến
tháng 11 – 1942)
- Ngày 1 – 9 – 1939, Đức tấn công Ba Lan. Ngày 3 - 9 - 1939, Anh, Pháp tuyên chiến với
Đức, Chiến tranh thế giới bắt đầu.
- Từ tháng 4 đến tháng 7 – 1940, Đức đánh chiếm Pháp, tấn công Anh.
- Mùa hè 1941, Đức chiếm hầu hết các nước tư bản châu Âu.
- Ngày 22 – 6 - 1941, Đức tấn công Liên Xô trên dọc tuyến biên giới phía tây. Đến tháng
10, Đức uy hiếp Thủ đô Mát-xcơ-va.
- Tháng 12 – 1941, Nhật Bản tấn công căn cứ Trân Châu cảng của Mỹ ở Thái Bình
Dương, Mỹ chính thức tham gia vào chiến tranh. Chiến tranh lan rộng toàn thế giới.
- Tháng 1 - 1942, Mặt trận Đồng minh chống phát xít được thành lập với ba trụ cột là Liên
Xô, Mỹ, Anh.
Hình 4. 3. Lược đồ quân Đức đánh chiếm châu Âu (1939 – 1941)
12
Giai đoạn II: Quân Đồng minh chuyển sang phản công, chiến tranh kết thúc (từ tháng 11
– 1942 đến tháng 8 - 1945)
Từ tháng 11 - 1942 đến tháng 2 – 1943, Liên Xô phản công và giành thắng lợi trước
quân phát xít tại thành phố Xta-lin-grát, tạo nên bước ngoặt của cuộc chiến tranh; từ phòng
ngự chuyển sang phản công.
Hình 4. 4. Hồng quân Liên Xô truy kích quân phát xít ở thành phố Xta-lin-grát
Tháng 6 - 1944, liên quân Mỹ, Anh và Đồng minh đổ bộ vào Noóc-măng-đi (Bắc
Pháp), mở mặt trận thứ hai ở Tây Âu, giải phóng nước Pháp.
Ngày 16 – 4 – 1945, quân đội Liên Xô mở chiến dịch công phá Béc-lin (Đức). Ngày
9 – 5 – 1945, Đức kí văn kiện đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Chiến tranh kết thúc
ở châu Âu.
Ngày 6 và ngày 9 – 8 – 1945, Mỹ ném hai quả bom nguyên tử xuống thành phố Hirô-si-ma và Na-ga-sa-ki của Nhật Bản.
Hình 4. 5. Quân Đồng minh đổ bộ tấn công Noóc-măng-đi (Pháp)
Ngày 8 – 8 – 1945, Liên Xô mở cuộc tấn công quân Nhật ở Đông Bắc Trung Quốc,
Ngày 15 – 8 – 1945, Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh không điều kiện. Chiến
tranh thế giới thứ hai kết thúc.
Trình bày diễn biến chính của Chiến tranh thế giới thứ hai.
b. Hậu quả của chiến tranh
Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc với sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa phát xít
Tuy nhiên, cuộc chiến tranh này đã gây ra những hậu quả vô cùng nặng nề: nền kinh tế thế
giới bị thiệt hại; nhiều thành phố, làng mạc, cơ sở sản xuất công nghiệp bị tàn phá.
BẢNG THỐNG KÊ HẬU QUẢ CỦA CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ HAI
13
Danh mục thống kê
Số liệu
Số nước tham chiến
76
Số người gia nhập quân đội (triệu người)
110
Số người chết vì chiến tranh (triệu người)
60
Số người bị thương (triệu người)
90
Thiệt hại về vật chất (tỉ đô la Mỹ)
4 000
Chi phí quân sự trực tiếp (tỉ đô la Mỹ)
1 384
Phân tích hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ hai đối với lịch sử nhân loại.
3. Nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa lịch sử, vai trò của Liên Xô và các nước Đồng
minh trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít
a. Nguyên nhân thắng lợi:
Chiến tranh thế giới thứ hai là cuộc chiến tranh phi nghĩa do phe phát xít gây ra –
“kẻ gieo gió phải gặt bão”, đồng thời là cuộc chiến tranh chính nghĩa của phe Đồng minh,
của các dân tộc bị phát xít chiếm đóng và của các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới.
Các dân tộc, toàn thể nhân loại tiến bộ luôn đoàn kết, kiên cường, sát cánh cùng lực
lượng Đồng minh chiến đấu vì nền hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội...
Tinh thần chiến đấu và ý chí kiên cường của quân đội các nước Đồng minh, đặc biệt
là của Hồng quân Liên Xô là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên thắng lợi.
Hình 4.6. Tượng dài vinh danh chiến sĩ Hồng quân ở thành phố Béc-lin (Đức)
b. Ý nghĩa: Thắng lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh đã giúp nhân loại thoát khỏi
thảm hoạ của chủ nghĩa phát xít, tạo nên bước chuyển biến căn bản của tình hình thế giới
sau chiến tranh: sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, tương quan giữa các
nước tư bản chủ nghĩa thay đổi,...
Chiến thắng chủ nghĩa phát xít đã tạo điều kiện cho phong trào giải phóng dân tộc,
phong trào vì hoà bình, dân chủ và tiến bộ xã hội phát triển.
c. Vai trò của Liên Xô và các nước Đồng minh trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít:
Liên Xô, Mỹ, Anh là lực lượng đi đầu, giữ vai trò trụ cột, quyết định thắng lợi,
trong đó Liên Xô có vai trò quyết định nhất.
1. Vì sao phát xít Đức, I-ta-li-a và quân phiệt Nhật Bản bị tiêu diệt trong Chiến tranh thế
giới thứ hai?
2. Thắng lợi của Liên Xô và các nước Đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai có ý
nghĩa lịch sử như thế nào?
3. Liên Xô và các nước Đồng minh có vai trò như thế nào trong việc tiêu diệt chủ nghĩa
phát xít?
Luyện tập – Vận dụng
1. Vẽ trục thời gian thể hiện những sự kiện chính của Chiến tranh thế giới thứ hai (1939 –
1945).
2. Dựa vào thông tin trong bài học, hãy đánh giá vai trò của Liên Xô và các nước Đồng
minh trong chiến thắng chủ nghĩa phát xít và nêu dẫn chứng.
Liên hệ và cho biết: Chiến tranh thế giới thứ hai đã để lại những bài học gì cho việc bảo vệ
hoà bình thế giới hiện nay?
CHƯƠNG 2 VIỆT NAM TỪ NĂM 1918 ĐẾN NĂM 1945
Bài 5 PHONG TRÀO DÂN TỘC DÂN CHỦ TRONG NHỮNG NĂM 1918 - 1930
Học xong bài này, em sẽ:
Mô tả được những nét chính của phong trào dân tộc dân chủ những năm 1918 –
1930.
14
Trong những thập kỉ đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước, cách mạng của nhân dân
Việt Nam tiếp tục rơi vào "tình hình đen tối như không có đường ra" Hãy nêu những hiểu
biết của em về hoạt động đấu tranh của các giai cấp, tầng lớp trong xã hội Việt Nam từ
năm 1918 đến năm 1930. Theo em, vì sao phong trào dân tộc dân chủ ở giai đoạn này dù
diễn ra sôi nổi nhưng vẫn chưa thành công?
Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai của tư bản Pháp được tiến hành ở Đông
Dương đã đưa tới nhiều biến đổi quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội Việt
Nam. Trên thế giới, thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và sự ra đời của
Quốc tế Cộng sản (1919) đã tác động to lớn đến phong trào cộng sản và công nhân quốc
tế, cũng như phong trào giải phóng dân tộc ở nhiều nước thuộc địa, phụ thuộc.
Bối cảnh lịch sử mới đã thúc đẩy phong trào dân tộc dân chủ Việt Nam phát triển
với những hình thức và nội dung phong phú.
1. Hoạt động yêu nước của người Việt Nam ở nước n...
 





