"
si=IvZ5YFmmsoOabK3y&start=57" title="YouTube video player" frameborder="0" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture; web-share" referrerpolicy="strict-origin-when-cross-origin" allowfullscreen>
Đảo giấu vàng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Thu Nga
Ngày gửi: 18h:51' 02-12-2024
Dung lượng: 451.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Thu Nga
Ngày gửi: 18h:51' 02-12-2024
Dung lượng: 451.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Robert Louis Stevenson
ĐẢO GIẤU VÀNG
Nhà xuất bản: NXB Văn Học
Dịch giả: Đăng Khánh
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.SachMoi.net
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
CHƯƠNG 1
Ngày ấy cha tôi còn đứng chủ quán cơm "Đô đốc Bin-bâu". Quán cơm dựng ở một
nơi hẻo lánh trên cửa biển. Hàng ế ẩm, khách thưa thớt, cảnh nhà túng quẫn. Cha tôi
phần lo buồn, phần ốm yếu khật khừ. Cha tôi có thể còn sống lâu nữa nếu không gặp
phải cái tên thủy thủ già ấy đến trọ. Tôi còn nhớ rõ như mới gặp hắn hôm qua. Hắn
nặng nề đi đến cửa, chiếc hòm đặt trên xe theo sau. Người hắn to lớn, vạm vỡ, nước
da lưng sạm như gạch nung, cái đuôi tóc trên đầu bết lại như keo lòng thòng trên cổ
áo xanh đã hoen nhiều vết; tay hắn sần sùi; trên má có một vết sẹo chém dọc xuống,
trắng bệch trông đến bẩn. Tôi còn nhớ, hắn đứng đưa mắt nhìn quanh cửa biển, miệng
huýt sáo rồi cất tiếng hát bài hát cổ của bọn thủy thủ, bài hát ấy về sau hắn hát luôn.
Mười lăm thằng trên hòm người chết ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say bét say be! Hắn hát
to, giọng ồ ồ cũ kỹ. Hát xong hắn cầm gậy gõ cửa. Cha tôi ra, hắn bảo đem một cốc
rượu "rum", giọng rất cộc cằn. Hắn nhấm nháp rượu ra vẻ một tay sành. Hắn chăm
chú nhìn ra bờ biển dốc ngược, nhìn vào cái biển cửa hàng rồi nói:
-Cái quán này thật là nơi thuận lợi. Đông khách không bác? Cha tôi trả lời:
-Thưa khách lắm.
-Cũng chỉ cần thế. Nói xong hắn gọi người phu khuân hòm vào nhà. Lát sau, hắn lại
nói:
-Tôi nghỉ đây ít lâu. Tính tôi rất dễ dãi. Chỉ cần một ít rượu "rum", ít trứng và mỡ là
đủ; với lại thỉnh thoảng ra đứng ngoài kia xem tàu chạy. Mà bác sẽ gọi tôi như thế nào
nhỉ? Thôi cứ gọi là ông chúa tàu vậy. à thôi! Tôi biết cái điều bác đang lưỡng lự rồi!
Này đây! Nói thế, hắn quẳng ngay ba bốn đồng tiền vàng ra:
-Khi nào hết, bác cứ bảo tôi!
-Hắn nói một cách thô lỗ và rất hách dịch. Tuy ăn vận lôi thôi, nói năng cục cằn,
nhưng coi bộ hắn không phải một thủy thủ thường. Hắn ra dáng một viên thuyền
trưởng hay phó thuyền trưởng quen lối tác oai tác quái với kẻ dưới. Bình thường, tính
hắn rất trầm mặc. Suốt ngày hắn thơ thẩn ven bờ biển cao, tay cầm cái ống nhòm
bằng đồng. Chiều tối, hắn về ngồi thu lu ở xó buồng bên cạnh đống lửa, uống rất
nhiều rượu "rum" pha nước. Mỗi lần đi chơi về, hắn lại hỏi: có người thủy thủ nào đi
qua đây không?
Mới đầu, chúng tôi tưởng hắn muốn tìm người thân thuộc, nhưng sau mới biết hắn
muốn tránh mặt bọn thủy thủ. Một hôm, hắn gọi tôi ra một nơi và dặn hễ nhìn thấy
tên thủy thủ cụt một chân thì nhớ bảo ngay cho hắn biết; rồi hắn hẹn cứ mồng một
đầu tháng hắn sẽ cho bốn xu. Thường đầu tháng, tôi phải đến nhắc hắn cho tiền, và
mỗi bận như thế hắn thở phì phì, giương mắt nhìn tôi làm tôi phải cúi mặt. Nhưng sau
đấy, hắn lại đưa tiền cho tôi và nhắc lại phải để ý tìm người thủy thủ cụt chân. Không
nói thì các bạn cũng biết cái hình ảnh anh lính thủy cụt chân này đến ám ảnh tôi luôn.
Trong những đêm bão tố, gió lay bốn góc nhà, sóng gầm ven bến quanh bờ, tôi mơ
thấy anh ta hiện ra thiên hình vạn trạng. Lúc thấy chân anh cụt tới gối, lúc cụt đến
bẹn, lúc chỉ còn một chân mọc ở giữa ngực. Có đêm thấy anh ta nhảy qua rào qua hố
đuổi tôi, làm tôi sợ toát mồ hôi. Chỉ vì bốn xu mà phải chịu những cơn sợ như vậy, kể
ra bốn xu cũng to quá. Tên chúa tàu uống nhiều rượu "rum" đến nỗi nhiều đêm hắn
như lên cơn loạn óc. Hắn ngồi hát những bài ca cổ man rợ. Có khi hắn gọi rượu, ép
mọi người phải uống để nghe hắn kể chuyện hay hát theo cùng hắn. Mọi người run sợ
phải cố hát theo. Nhiều lúc cả nhà ầm lên những câu hát: ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say
bét say be! Khi thì hắn đập bàn bắt mọi người ngồi im lặng. Lúc ấy hễ ai hỏi động đến
hắn là hắn nổi cơn thịnh nộ. Chỉ đến khi say khướt, chân tay mềm rủn, hắn mới để
khách ra về. Chuyện hắn kể rặt là những chuyện khủng khiếp: nào thắt cổ nhục hình,
nào bão biển, đảo Rùa, nào những chuyện kỳ quặc trên đất hoang thuộc xứ Tây Ban
Nha. Cha tôi lo buồn sợ mất khách vì hắn. Nhưng điều nguy hơn cả là hắn cứ ở lần
lữa ngày này qua ngày nọ đến nỗi tiền hắn đưa trả đã hết từ lâu mà cha tôi cũng không
có can đảm để hỏi hắn. Hễ đả động đến là mắt hắn long lên, mũi hắn gầm gừ thở phì
phò làm cha tôi phải vội vã rút lui. Và mỗi bận như thế cha tôi lại vặn tay uất ức.
Những lo phiền sợ hãi ấy đã làm bệnh tình cha tôi thêm trầm trọng. Trong khi hắn ở
trọ quán chúng tôi, hắn vẫn đội cái mũ ba vành nhàu nát và cái áo xanh lem luốc vá
víu trăm mảnh. Hắn chẳng bắt chuyện với ai sau lúc hắn tỉnh dậy. Cả đến cái hòm to
của hắn cũng chẳng bao giờ thấy hắn mở. Có một lần hắn gặp tay đối thủ. Lúc ấy cha
tôi đang ốm nặng. Buổi trưa ấy, bác sĩ Ly-vơ-xây đến thăm bệnh cha tôi. Bác sĩ là
người nhân từ có tiếng. Gặp những người nghèo khổ, ông hay giúp đỡ và có lúc chữa
bệnh cho họ không hề lấy một xu nhỏ. Riêng đối với gia đình tôi, ông là một vị ân
nhân. Xem xong bệnh cho cha tôi, ông sang phòng bên hút thuốc. Anh chúa tàu đang
ê a bài hát cũ: Mười lăm thằng trên hòm người chết, ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say bét
say be! Ngoài bác sĩ ra, bài hát này chẳng ai lạ tai hết. Hát xong, quen lệ hắn đập tay
xuống bàn quát mọi người im.
Mọi người đều nín thít. Riêng bác sĩ vẫn hút thuốc và vẫn ôn tồn giảng cho một ông
lão nghe cách trị bệnh tê thấp. Anh chúa tàu trừng trừng nhìn bác sĩ, lại vỗ bàn, rồi
quát lên bằng giọng tục tĩu:
-Đằng ấy có câm mồm không? Bác sĩ nói:
-ông bảo tôi phải không? Khi anh chàng tục tằn kia bảo "phải", bác sĩ nói:
-Tôi nói với anh điều này: nếu anh cứ uống rượu "rum" mãi, thì đến phải tống anh đi
nơi khác. Cơn tức của tên giặc già thật đến ghê. Hắn đứng phắt dậy rút soạt dao ra,
lăm lăm chực đâm bác sĩ. Tôi lo cho bác sĩ quá. Nhưng ông vẫn vững chãi, giọng vừa
dõng dạc vừa bình tĩnh mà quả quyết:
-Nếu anh không cất dao vào, tôi quyết sẽ làm anh bị treo cổ trong phiên tòa đại hình
sắp tới. Tôi còn nhớ trông bác sĩ lúc này với gã kia thật khác nhau một trời một vực.
Một đằng thì đức độ khoan dung, hiền từ mà nghiêm nghị. Một đằng thì nanh ác,
hung hăng như con thú dữ nhốt chuồng. Hai người đưa mắt gườm nhau. Rốt cục tên
chúa tàu gằm mặt xuống, tra dao vào, ngồi xuống, làu bàu trong cổ họng. Bác sĩ nói:
-Bây giờ tôi mới biết trong quận này có một người như anh. Tôi không chỉ làm thầy
thuốc, tôi còn xử án nữa. Nếu bận sau còn xảy ra việc gì, tôi sẽ ra lệnh bắt và đuổi anh
ra khỏi đất này. Một lát sau, bác sĩ lên ngựa. Từ đêm ấy và những đêm sau, tên chúa
tàu im như thóc.
CHƯƠNG 2 - HẮC CẨU
Mùa đông năm ấy rất lạnh, tuyết to, bão lớn. Bệnh tình cha tôi không còn hy vọng qua
khỏi mùa đông. Tất cả công việc nhà đều đổ vào vai hai mẹ con tôi, nên chúng tôi
cũng không còn đâu thì giờ rỗi để gặp ông khách khả ố ấy nữa. Tháng giêng, một
buổi sáng rét buốt, tuyết phủ trắng bến tàu, sóng vỗ nhẹ trên đá, mặt trời vừa nhô lên
đầu núi, chiếu sáng mặt biển xa. Viên chúa tàu dậy sớm hơn thường lệ. Hắn đi ra biển,
con dao dài lủng lẳng, ống nhòm dưới nách, mũ hất ngược ra sau. Tôi nhớ khi hắn đi
khuất sau tảng đá, tôi còn nghe tiếng hắn thở phì phò gầm gừ như đương cơn tức. Lúc
bấy giờ tôi đương lúi húi dọn cơm sáng sẵn để hắn về ăn. Chợt cửa mở, một người lạ
mặt bước vào. Mặt hắn xanh sạm, bàn tay trái cụt hai ngón. Hắn không giống người đi
biển nhưng có vẻ làm cho người ta phải nhớ đến biển. Hắn bảo hắn muốn dùng
"rum". Tôi sắp đi lấy thì hắn ra hiệu bảo tôi đến gần. Tôi dừng lại. Hắn gọi:
-Lại đây chú bé! Lại gần đây! Rồi hắn hỏi:
-Bàn ăn này có phải của ông bạn Bin không? Tôi bảo không biết ai tên là Bin, mà đây
là bàn của người khách trọ thường gọi là ông chúa tàu.
-Phải, phải! Chúa tàu cũng đúng! ông ta có cái sẹo ở má trái, tính ông ta vui đáo để,
nhất là khi ông ấy say, phải không nào? Đúng đứt đi chứ lị! Thế ông Bin có nhà
không?
-Đi vắng rồi.
-Đi đâu? Đi về lối nào? Nhìn lối tôi chỉ xong, người khách lạ ngồi lại, mắt hau háu
nhìn ra bến như mèo rình chuột. Vừa lúc tôi chạy ra đường, hắn gọi giật ngay; tôi chưa
kịp vào, hắn rủa một tiếng làm tôi mất hồn. Khi tôi vào rồi, hắn trở lại nhã nhặn, vỗ
vai tôi, khen tôi là đứa trẻ ngoan và bảo hắn thích tôi lắm:
-Tao cũng có đứa con trai giống mày như đúc. Nhưng đã là con trai thì phải biết nghe
lời, nghe không con? à đây rồi, ông Bin đã về kia. Tao với mày hãy vào buồng nấp
sau cửa này để cho ông ta một mẻ hết vía chơi. Nói thế rồi hắn lôi tôi vào buồng nấp
sau cánh cửa bỏ ngỏ; hắn để tôi đứng sau lưng, tay hắn sờ vào chuôi dao sau áo. Một
chốc, tên chúa tàu bước vào, đóng sầm cửa rồi bước thẳng lại bàn ăn.
-Bin!
-Người lạ lên tiếng gọi, cố lấy giọng cho to, cho dõng dạc. Viên chúa tàu quay lại. Mặt
hắn biến sắc tái mét. Mắt hắn thất thần, người hắn bỗng chốc trở nên già sọm. Người
lạ lại nói:
-Anh Bin, anh còn nhận ra người bạn cũ này chứ? Viên chúa tàu hổn hển thở phào
một tiếng:
-Hắc Cẩu!
-Không Hắc Cẩu thì còn ai vào đây nữa. Chao! Anh Bin ơi! Từ khi tôi mất hai ngón
tay này, hai chúng ta đã gặp bao chuyện trên đời! Hắn vừa nói vừa giơ bàn tay trái cụt
ngón ra. Viên chúa tàu nói:
-Thôi! Anh đã tìm được tôi... Muốn gì nói đi!
-Bin, anh nói đúng! Để tôi bảo cậu bé đáng yêu này lấy cốc "rum", rồi chúng ta sẽ nói
chuyện với nhau như những người bạn cũ. Khi tôi mang rượu vào, Hắc Cẩu bảo tôi ra
và không được đứng nghe ở cửa. Tôi ra ngoài quầy, cố lắng tai nhưng chỉ nghe tiếng rì
rầm, một vài tiếng chửi rủa của viên chúa tàu. Thốt nhiên có tiếng bàn ghế đổ, tiếp
theo là tiếng dao loảng xoảng rồi tiếng kêu thất thanh. Một chốc, tôi thấy Hắc Cẩu
chạy ra, tên chúa tàu đuổi sát sau, vai Hắc Cẩu máu đổ ròng ròng. Đến cửa ngoài, viên
chúa tàu giơ dao chém bổ xuống nhưng lưỡi dao vướng vào tấm biển hàng. Hắc Cẩu
thoát ra ngoài, chạy biến mất sau gò. Còn viên chúa tàu giụi mắt đứng ngơ ngác rồi
vào nhà. Hắn gọi tôi:
-Dim! Đem "rum" đây!
Hắn vừa nói vừa lảo đảo, tay dựa vào tường. Tôi bàng hoàng chạy đi lấy rượu. Bỗng
nghe tiếng đánh thịch trong phòng. Tôi vào thì đã thấy tên chúa tàu nằm dài sóng
sượt, bất tỉnh nhân sự. Lúc ấy mẹ tôi nghe tiếng chạy xuống. Chúng tôi nâng cao đầu
hắn lên. Mẹ tôi kêu:
-ối giời! Khổ ơi là khổ! Lại còn bố mày ốm nằm liệt trên kia! Giữa lúc chúng tôi đang
bối rối thì cánh cửa mở, bác sĩ Ly bước vào. Trông thấy bác sĩ, chúng tôi mừng khôn
xiết. Tôi vội nói:
-Thưa bác sĩ, không hiểu lão bị thương ở đâu mà chết cứng thế này. Bác sĩ điềm nhiên
bảo:
-Bị thương gì! Hắn lên chứng động kinh đấy.
-Giọng ông trở nên ân cần ấm cúng.
-Còn bà, thôi hãy lên với ông nhà; đừng để ông nhà biết chuyện này. Tôi sẽ cố chạy
chữa cho hắn. Nào cậu Dim! Đi lấy cái thau đây. Khi tôi đem thau lại thì bác sĩ đã xắn
cánh tay áo hắn lên. Trên cánh tay lực lưỡng có trổ nhiều dòng chữ:
“Thuận buồm xuôi gió", "Tai qua nạn khỏi", "Bin-bôn cóc cần". Bác sĩ bảo:
-Cậu cầm lấy chậu thau. Nào thử xem máu anh này ra sao. Nói thế rồi bác sĩ cầm dao
chích vào mạch máu hắn. Khi máu chảy ra nhiều, hắn mới tỉnh dần và kêu lên:
-Hắc Cẩu đâu rồi?
-Chẳng có Hắc Cẩu đâu. Hắc Cẩu chỉ ở trong lương tâm của anh thôi!
-Bác sĩ đáp.
-Anh uống quá nhiều "rum" nên mắc phải chứng kinh phong đấy. Và bây giờ, ông
Bin-bôn...
-Tên ấy không phải tên tôi
-Hắn vội nói. Bác sĩ bảo:
-Muốn tên gì cũng được. Tên ấy là tên một thằng cướp biển mà tôi từng biết! Tôi chỉ
khuyên anh một điều: một cốc rượu "rum" chưa can gì, nhưng nếu cứ chén trong kéo
chén ngoài thì có ngày anh đi đứt. Hiểu chưa? Thôi bây giờ anh cố gượng, tôi đưa anh
lên buồng ngủ. Khó nhọc lắm, chúng tôi mới vực được hắn lên giường. Hắn nằm
thiêm thiếp. Bác sĩ kéo tôi ra:
-Không hề gì đâu, tôi đã lấy khá nhiều máu ở cánh tay hắn để hắn phải nằm yên ít lâu.
Như thế cũng yên cho hắn mà cũng yên cho gia đình cậu. Chỉ lên cơn một lần nữa là
hắn đi đời.
CHƯƠNG 3 - CÁI VẾT ĐEN
Một buổi trưa, tôi đến buồng viên chúa tàu, đem cho hắn ít thức ăn và thuốc
-sắc mặt hắn trông xanh xao và ngớ ngẩn. Hắn bảo tôi:
-Cậu Dim, bây giờ tôi chỉ còn mình cậu. Người ta khinh khi tôi, chẳng ai thèm ngó
đến tôi nữa. Cậu cũng biết tôi đối xử với cậu thế nào. Tháng nào tôi cũng cho cậu bốn
xu đấy... à này, cậu cho tôi xin một cốc rượu "rum" nào.
-Thầy thuốc đã dặn... Tôi chưa nói hết câu, hắn đã chửi rầm lên:
-Bọn thầy thuốc thì biết cóc khô gì! Lão lang ấy hiểu thế nào được bọn thủy thủ chúng
tôi. Tôi đã từng vào những chốn nước sôi lửa bỏng, đất nóng như lửa than và động
như sóng cồn mà tôi sống được cũng chỉ nhờ uống "rum". Không có rượu "rum", tôi
còn thua cái giẻ rách. Mẹ kiếp, cái lão lang đểu cáng! Giọng hắn lại trở thành van lơn:
-Cậu Dim, cậu thử nhìn ngón tay tôi run bắn thế này, chỉ vì không có một giọt rượu.
Nếu cậu không cho tôi hớp rượu, tôi điên lên bây giờ. Tôi đã thấy lão Phơ-linh đứng ở
xó kia. Tôi đã nóng mắt lên rồi đây. Nào, cậu lấy cho tôi một cốc, nhanh lên, tôi sẽ
cho cậu một đồng tiền vàng nước Ghi-nê. Thấy hắn đưa tiền ra dử, tôi tức lộn ruột.
Nhưng nghĩ đến cha đương bệnh nặng, cần yên tĩnh thuốc thang, sợ hắn làm ầm lên,
tôi bảo:
-Tôi chỉ cần ông trả tiền cơm cho đủ, ngoài ra tôi không thèm ngửa tay lấy một xu nào
của ông cả. Tôi chỉ rót cho ông một cốc rượu thôi, không được vòi thêm đấy! Cốc
rượu tôi đưa, hắn ực một hơi cạn ráo. Hắn bảo:
-Hà, đã thấy hơi dễ chịu! Cậu có biết thầy thuốc bảo tôi còn phải nằm bao lâu không?
-ít ra cũng một tuần lễ. Hắn kêu to:
-Chết mẹ! Một tuần lễ là không được rồi. Chẳng mấy chốc mà bọn nó sẽ gửi cái vết
đen đến rồi! Hắn cố chống tay ngồi dậy rồi lại ngã giụi xuống giường. Tôi hỏi:
-Vết đen là cái gì?
-Đó là dấu hiệu báo trước. Bọn chúng mà gửi vết đen đến là muốn đoạt lấy chiếc hòm
của tôi đó. Bọn chúng toàn đồ chó má, chỉ muốn ăn cướp của người. Nếu chúng gửi
vết đen đến, cậu cứ mượn ngựa... mượn ngựa đến cái lão thầy thuốc... Cậu báo cho cái
ông ấy biết là cứ rình ở đây, sẽ tóm được hết cả lũ thủ hạ của lão Phơ-linh. Khi xưa tôi
là phó thuyền của lão ấy. Khi chết, lão đã chỉ cho một mình tôi biết cái chỗ ấy. Hắn
còn nói huyên thiên, tiếng nói cứ yếu dần, rồi hắn ngủ thiếp đi. Tôi đã định đi kể
chuyện cho bác sĩ Ly nghe nhưng thốt nhiên cha tôi mất, mọi việc đành xếp lại. Lòng
thương cha, việc tang bận rộn làm tôi gần như quên bẵng tên chúa tàu và cũng không
sợ hắn như trước nữa. Có điều lạ là sáng hôm sau, hắn đã xuống nhà ăn cơm và uống
nhiều rượu "rum" hơn mọi bận. Sức hắn mỗi ngày mỗi lụn dần, nhưng tính hung hãn
vẫn như xưa.
Ngay sau hôm đưa đám cha tôi, tôi ra đứng trước cửa. Trời chiều, khí lạnh mịt mù,
tình thương cha bùi ngùi trong dạ. Tôi chợt thấy trên đường cái một người đi lại. Tôi
đoán chắc là người mù, vì hắn cầm gậy khua phía trước. Hắn đeo một miếng the xanh
che kín mắt mũi, tuổi hắn già, hắn mặc cái áo đi biển cũ rích. Hắn dừng trước cửa
quán, lên tiếng hỏi:
-ông bà nào làm phúc bảo cho kẻ mù lòa này biết nơi này là đâu? Lòng thương nhớ
cha tôi còn bổi hổi nên trông thấy kẻ tàn tật, tôi bỗng chạnh lòng. Tôi vội bảo:
-Này ông già, đây là quán "Đô đốc Bin-bâu".
-Tôi nghe tiếng ai như tiếng một cậu bé... Cậu ơi! Cậu dắt hộ lão với... Không ngần
ngại, tôi đưa tay cho hắn cầm. Tên mù có giọng nói ngọt xớt ấy liền bóp chặt tay tôi
như kìm sắt. Tôi hoảng sợ cố gỡ ra nhưng hắn kéo tôi lại gần bảo nhỏ:
-Đưa tao đến gặp viên chúa tàu!
-Thưa ông, tôi quả không dám. Hắn cười khanh khách, vẻ chế giễu:
-Đưa tao vào ngay, không tao bẻ gãy tay bây giờ. Tôi định phân trần, hắn đã cướp lời:
-Không nói nữa, đi vào ngay! Tôi không thấy tiếng ai độc ác, lạnh lùng và gớm ghiếc
như tiếng tên mù ấy. Tôi đau thì ít mà sợ thì nhiều nên phải nghe lời hắn. Tay tên mù
nắm chặt lấy tôi như bàn tay sắt. Tôi đưa hắn vào chỗ tên giặc già đương say rượu lừ
đừ. Tên chúa tàu thoạt thấy tên mù, hơi rượu "rum" bỗng bay mất. Hắn tỉnh hẳn, trố
mắt lên nhìn. Hắn cố đứng dậy nhưng không còn sức. Tên mù nói:
-Này anh Bin, hãy ngồi yên đấy. Việc đâu có đó. Cậu bé này cầm lấy cổ tay trái ông
Bin đưa lại gần tay phải tôi... Tôi và cả viên chúa tàu đều tuân theo. Hắn trao cho viên
chúa tàu một vật gì giấu trong tay hắn. Xong hắn buông tay ra; thoắt một cái, hắn đã
ra ngoài và đến đường cái. Tôi nghe tiếng gậy lộc cộc xa dần. Một lúc sau, tên chúa
tàu mới hoàn hồn và nhìn xuống tay. Hắn kêu to:
-Kỳ hạn chúng cho đến mười giờ! Chúng ta còn sáu tiếng nữa... để lo liệu. Nói xong,
hắn đứng dậy. Ngay lúc ấy người hắn chới với, hắn đưa tay lên kêu rú một tiếng rồi
ngã vật xuống. Tôi chạy lại và gọi mẹ tôi. Nhưng không kịp! Hắn đã chết rồi.
CHƯƠNG 4 - CÁI HÒM CỦA VIÊN CHÚA
TÀU
Bấy giờ tôi mới nói những điều tôi biết cho mẹ tôi nghe. Hai mẹ con tôi đương lâm
vào cảnh ngộ rất khó khăn. Phần nợ của viên chúa tàu đã làm chúng tôi sạt nghiệp,
phần giặc cướp rình mò quanh nhà. Trong lúc nguy khốn này, tôi chỉ biết nghĩ đến
bác sĩ Ly. Tôi muốn đến báo với ông nhưng lại sợ để mẹ ở nhà một mình, ngộ xảy ra
việc gì, lòng tôi không nỡ. Cuối cùng mẹ con tôi quyết định chạy lên xóm bên cầu
cứu. Chúng tôi ra đi trong lúc nhá nhem tối, sương mù lạnh buốt; cái xóm chỉ cách
nhà tôi dăm trăm mét, vậy mà mịt mù không thấy đâu cả! Đi được một đoạn, hai mẹ
con dừng lại lắng nghe... Nhưng ngoài tiếng nước vỗ, tiếng quạ kêu trong rừng, chẳng
nghe thấy tiếng gì khác. Đến xóm thì vừa lúc lên đèn. Tôi không quên được phút vui
mừng khi trông thấy ánh đèn. Chúng tôi cầm chắc đến đây là có người cứu giúp.
Nhưng khi nghe đến tên tướng cướp Phơ-linh và đồng đảng của hắn là mọi người rụt
cổ. Rút cục chỉ có người chịu đi báo với ông Ly, nhưng không ai chịu đến giữ quán
cơm với chúng tôi cả. Người ta nói, bệnh sợ là bệnh hay lây. Nhưng sợ quá cũng hóa
liều, thành đánh bạo. Mẹ tôi bảo không muốn để đứa con vừa mồ côi cha phải mất
một số tiền nợ. Mẹ tôi mượn một cái túi đựng tiền, rồi hai mẹ con dắt díu nhau trở về.
Mặt trăng mới mọc chiếu hồng lớp sương mù. Chúng tôi đi nhanh chân để khi trở lại,
trăng chưa sáng. Đến nhà, đóng cửa xong mới thấy yên tâm. Mẹ tôi lấy nến đốt lên rồi
hai mẹ con dắt nhau vào phòng. Xác tên chúa tàu vẫn nằm ngửa như cũ. Mẹ tôi bảo
nhỏ:
-Kéo cửa gỗ xuống con! Kẻo ở ngoài trông thấy. Xong, mẹ tôi bảo phải lấy cái chìa
khóa trong mình hắn. Tôi đánh bạo quỳ xuống... Cạnh tay hắn có một mảnh giấy tròn
nhỏ, một mặt bôi đen. Tôi đoán ngay là cái vết đen. Mặt bên kia viết mấy chữ:
“Kỳ hạn cho anh đến 10 giờ đêm nay là hết". Tôi nhìn lên cái đồng hồ cổ treo trên
vách. Mới có 6 giờ. Mẹ tôi giục:
-Dim! Tìm chìa khóa đi con! Tôi lần túi hắn, hết túi này sang túi nọ, nhưng tôi thất
vọng. Mẹ tôi bảo:
-Có khi hắn treo ở cổ.
Tôi mò lên thì thấy cái chìa khóa buộc vào một đoạn dây, treo ngay ở cổ. Chúng tôi
vội vã lên gác, vào thẳng gian phòng hắn ngủ, nơi hắn để chiếc hòm đồ khi mới đến.
Chiếc hòm này cũng giống như trăm ngàn chiếc hòm khác của bọn thủy thủ. Trên mặt
hòm có khắc một chữ "B" bằng sắt nung. Vừa mở nắp lên, thấy sặc mùi thuốc lá và
hơi nhựa. ở ngăn trên thấy có một bộ quần áo còn mới nguyên. ở dưới, các thứ để lộn
xộn: một cái thước đo đường biển, vài cuộn thuốc lá, hai khẩu súng lục thật đẹp, một
thoi bạc, một đồng hồ quả quít cổ, một ít đồ lặt vặt, phần nhiều là đồ nước ngoài, một
cái com-pa, một đôi địa bàn vỏ đồng và năm sáu cái vỏ ốc. Nói chung chẳng có vật gì
quý giá. ở dưới nữa, thấy có một cái áo tơi đi biển đã bạc màu. Mẹ tôi sốt ruột, lôi cái
áo ấy lên. Trong hòm chỉ còn một gói bọc vải sơn dầu hình như ở trong có gói giấy
má gì và một cái túi vải; chạm đến túi nghe tiếng loảng xoảng. Mẹ tôi nói:
-Tao sẽ cho bọn bất lương thấy rằng tao là người lương thiện. Tao chỉ lấy đủ số tiền
nợ, không thèm lấy thêm một xu nhỏ... Này, cầm lấy cái túi...
Mẹ tôi vốc tiền trong túi của hắn, vừa đếm vừa bỏ vào cái túi tôi cầm. Trong túi hắn
có đủ cả tiền các nước: Tiền vàng Tây Ban Nha, tiền vàng Pháp, tiền Ghi-nê Anh, và
còn nhiều thứ tiền khác nữa. Tiền Ghi-nê có ít, nhưng chỉ có thứ tiền ấy mới tính nợ
được, vì thế đếm tiền vừa lâu vừa khó. Đang đếm tôi bỗng nghe tiếng gậy của thằng
mù khua trên đường cái lạnh. Hắn đang đi lại gần. Hắn gõ cửa quán mấy cái. Chúng
tôi nghe tiếng vặn quả đấm, tiếng then cửa lạch cạch rồi phút chốc trong ngoài yên
lặng... Lại nghe tiếng gậy lộc cộc trên đường xa dần rồi mất hẳn. Tôi nói:
-Mẹ ơi! Ta đem cả đi thôi. Tuy sợ, nhưng mẹ tôi vẫn khí khái, nhất định không chịu
lấy hơn số tiền nợ, mà cũng không chịu thiếu. Mẹ con đương giằng co nhau thì thốt
nghe có tiếng còi rúc ở phía đồi. Tôi vội vàng đứng dậy, vừa nhặt cái gói vải sơn dầu
vừa nói:
-Con lấy cái này cho đủ số tiền nợ. Chúng tôi lần xuống, bỏ lại cây nến rồi mở cửa
chạy ra ngoài. Sương mù tan nhanh, mặt trăng lồ lộ chiếu sáng trên dãy gò. Chúng tôi
bước nhanh. Chưa được nửa đường, chúng tôi đã nghe thấy tiếng chân nhiều người đi
lại; phía trước có một ngọn đèn lắc lư. Chúng tôi biết ngay trong bọn nó có người xách
đèn. Thốt nhiên mẹ tôi quỵ xuống nói như giối giăng:
-Con ơi! Cầm lấy tiền mà chạy đi thôi... Mẹ đuối sức rồi, không bước được nữa. May
sao đã đến gần cầu. Trong gian nguy, sức tôi khỏe lên gấp bội. Tôi xốc nách, dìu mẹ
tôi men theo bờ lạch, đến mãi dưới gầm cầu. Mẹ tôi thở hắt một tiếng rồi nằm vật ra.
Chúng tôi chỉ cách hàng cơm một quãng ngắn.
CHƯƠNG 5 - HẾT KIẾP THẰNG MÙ
Tuy tôi sợ nhưng tính tò mò của tôi lại mạnh hơn. Tôi bò lại nấp sau bụi, nhìn lên con
đường trước cửa nhà. Tôi vừa ngồi xuống thì bảy tám tên giặc ồ ạt chạy đến, tên cầm
đèn đi đầu. Tuy trời sương mù, tôi cũng nhận ra tên mù đi giữa. Một lát, nghe tiếng
hắn quát to:
-Phá cửa đi! Cả bọn kéo ùa vào nhà, lão mù đứng ngoài, luôn mồm đốc thúc và chửi
rủa. Thốt nhiên một tiếng kinh ngạc vọng ra:
-Lão Bin chết rồi! Nhưng tên mù quát:
-Đồ ngốc, cứ lục túi nó xem! Rồi những tiếng kêu kinh ngạc ầm nhà. Từ gác trên một
đứa thò đầu ra bảo:
-Piu ơi! Có kẻ đến trước lục tung cả rồi! Lão mù gầm lên:
-Có thấy cái ấy không?
-Có thấy tiền. Lão Piu rống lên:
-Tiền thì làm cái đếch gì! Tao hỏi giấy tờ của lão Phơ-linh kia!
-Chẳng có giấy tờ nào cả. Lão mù lại kêu to lên:
-Thôi, chính mấy đứa ở quán cơm lấy rồi! Chính thằng nhãi con! Biết thế ông móc
mắt nó cho sớm. Thôi chúng bay tản đi các ngả, tìm chúng ngay. Một tên đứng gần
cửa sổ bảo:
-Phải rồi! Đèn nó còn để đây. Ngay lúc ấy, tiếng còi lúc nãy lại rúc lên hai lần. Tôi
hiểu ngay là tiếng còi hiệu báo nguy của đồng đảng chúng. Tôi nghe lão Piu hét lớn:
-Còi mặc còi! Chúng bay chỉ là đồ ăn hại, đồ chó má! Cứ sục tìm chúng nó đi. Nhưng
bọn chúng vẫn ngần ngại. Lão mù lại chửi rầm lên:
-Lũ bay là đồ khốn kiếp! Của để trước miệng mà còn chần chừ! Chuyến này mà hỏng
việc là tại chúng mày cả. Một đứa trong bọn lên tiếng:
-Piu ơi! Đừng rống lên nữa! Cứ cầm lấy một ít tiền vàng đây mà xài!
Nghe thế, lão mù bỗng hằm hằm tức giận, vung gậy đập chan chát vào bọn kia. Bọn
chúng cũng chửi rủa lại. Nhờ trận ẩu đả ấy, chúng tôi thoát nạn. Giữa khi ấy có tiếng
ngựa phi dồn dập ở đỉnh gò, rồi tiếp theo một tiếng súng nổ cạnh đấy. Có lẽ đó là
tiếng báo hiệu nguy nhất, vì tôi thấy bọn giặc vụt chạy tán loạn, bỏ trơ lão mù lại một
mình. Lão ta vung gậy quờ quạng, vừa chạy vừa kêu gọi bọn kia. Nhưng tiếng vó
ngựa đã nện trên đỉnh gò và phi xuống dưới ánh trăng. Lão mù bỗng như điên dại,
chạy đâm thẳng ngay vào chân con ngựa đầu đàn đang phi tới. Lão chỉ kịp kêu lên
một tiếng. Bốn vó ngựa xéo lên mình lão, hất lão nằm úp sấp mặt xuống đất. Tôi nhảy
ra và nhận ra ngay những nhân viên thuế quan đương kéo đến. Nhưng tất cả bọn giặc
đã cao chạy xa bay. Thằng Piu thì đã chết thẳng cẳng. Mẹ tôi cũng đã tỉnh lại. Viên
thanh tra hỏi tôi bọn chúng định cướp gì trong nhà. Tôi thuật lại câu chuyện và nói:
-Tôi chắc không phải chúng kiếm tiền mà chính là chúng muốn tìm cái vật tôi đang
giữ đây. Bây giờ tôi muốn trao cái này lại cho bác sĩ Ly...
Viên thanh tra gật đầu tán thành ngay và chúng tôi cùng lên ngựa, đi nước kiệu về
thẳng nhà bác sĩ Ly.
CHƯƠNG 6 - GIẤY TỜ CỦA VIÊN CHÚA
TÀU
Lúc chúng tôi đến nơi thì người đầy tớ gái cho biết bác sĩ đã xuống chơi với nhà quý
tộc Chi-lô-nây và ngủ đêm ở đấy. Bác sĩ và ông Chi là hai người bạn thân tình. Theo
lời bác sĩ thì ông Chi là một người hào hiệp, giàu lòng bác ái, hay cứu khốn phò nguy.
ông ta chỉ thích đi săn và làm việc nghĩa. Đã có lần ông cho gọi tôi đến, hỏi han về sự
học hành và xoa đầu tôi, bảo:
-Cháu là đứa trẻ thông minh. Cháu nên gắng học để sau này thành người có ích cho
nước nhà.
Tôi còn nhớ lần ấy ông bảo mang lên cho tôi một đĩa thịt chim và bắt tôi ăn cho kỳ
hết mới nghe. Tuy đối với ông, tôi không thân bằng bác sĩ Ly, nhưng lòng tôi vẫn kính
phục ông hết sức. Khi chúng tôi đến thì thấy hai ông đang ngồi hút thuốc lá cạnh lò
sưởi. Lần này tôi mới nhìn được ông Chi rõ hơn. ông người cao lớn, nét mặt hiền từ
nhưng cương nghị, lông mày đen sẫm, khi giương lên, khi cau lại, tỏ ra người nhanh
trí và hơi kiêu kỳ. ông ngồi nghe viên thanh tra thương chính thuật chuyện một cách
thích thú. Thỉnh thoảng ông lại nhìn tôi, nửa như khen ngợi, nửa như khuyến khích.
Khi viên thanh tra ra về, bác sĩ Ly đứng dậy hỏi tôi:
-Cậu Dim, cái vật chúng muốn tìm là cái gì?
-Thưa ông, đây... Tôi vừa nói vừa đưa cái gói bọc vải sơn dầu cho bác sĩ. Bác sĩ ngắm
nghía, hình như muốn mở nhưng lại thôi. ông Chi hỏi tôi:
-Chắc cậu đói lắm, phải không? Không đợi tôi trả lời, ông đã gọi mang thức ăn ra. Lần
này cũng lại một đĩa thịt chim ướp. Tôi đang đói bụng, ăn rất ngon lành.
Bác sĩ Ly đương ngồi trầm ngâm, tay mân mê cái gói vải sơn dầu, bỗng ông hỏi ông
Chi:
-Này, chắc ngài đã nghe nói đến tên Phơ-linh? ông Chi đáp thực to:
-Lão Phơ-linh là tay trùm cướp khét tiếng, ai mà không biết! Bác sĩ Ly lại hỏi:
-Thế lão ấy có nhiều tiền của không? ông Chi lại nói to:
-Làm giặc, chả giết người kiếm tiền thì còn kiếm gì? Số tiền lão kiếm được suốt một
đời làm giặc cũng đủ cất một kho của lớn. Dừng một lát, bác sĩ Ly lại hỏi:
-Giá thử trong cái gói này đây có đủ giấy má để tìm nơi lão Phơ-linh giấu của, thì ngài
định liệu thế nào?
-Thì chúng ta sẽ sửa soạn một chiếc tàu, đi lấy về thôi. Bác sĩ nói:
-Thôi được! Xin mời cậu Dim lại đây! Khi tôi đến gần, bác sĩ đặt cái gói lên bàn rồi
trịnh trọng nói:
-Cậu là người có công lấy được vật này. Nếu cậu ưng thuận, chúng ta sẽ cùng mở ra
xem. Không nói thì các bạn cũng biết, tôi đã vui vẻ gật đầu. Trong gói có hai thứ: một
quyển sổ của tên Piu ghi tiền cướp được, và một phong bì niêm kín, có dấu đóng.
Thấy quyển sổ không có gì quan trọng, bác sĩ Ly liền mở đến phong bì. Trong đó có
bản đồ một cái đảo, có chia cả kinh tuyến, vĩ tuyến, các chỗ sâu, chỗ nông, tên núi,
tên bến, tên lạch và nơi đỗ tàu chắc chắn. Cái đảo chiều dài chín dặm, ngang năm
dặm, trông hình dáng như con rồng uốn. Đảo có hai bến rất kín, ở giữa có cái gò tên
là Vọng Viễn, có ghi nhiều dấu, có dấu mới ghi thêm. Tính ra thì có ba dấu chữ thập
đỏ, hai ở phía bắc đảo và một về phía tây nam. Gần dấu này có mấy chữ viết mực đỏ
rất rõ:
“Phần chính kho của là ở nơi này". Đằng sau, có chú thêm, chữ cùng do một người
viết:
“Cây to. Đồi con, gò Vọng Viễn, mũi đất về phía B.B.Đ. "Đảo Hình Người Đ.Đ.N.
"Mười mét..." Rồi một số dòng chữ chú thích nữa, dưới ký:“P."
Tuy vắn tắt và khó hiểu như vậy, nhưng trông mặt hai ông rạng rỡ vui mừng. Bác sĩ
kêu lên:
-Một kho của lớn sắp về tay chúng ta. Từ lúc xem xong bản đồ, nét mặt ông Chi vốn
trầm lặng bỗng giờ đây mắt sáng long lanh, ông đứng lên nói một cách say sưa:
-Tôi thì tôi nghĩ một kho của phi nghĩa sắp trở thành một kho của có ý nghĩa. Một
kho vàng nằm im vô dụng, giờ đây sắp được đem lên để làm sáng bao nhiêu khuôn
mặt khổ nghèo. Bác sĩ Ly gật gật đầu ra vẻ đồng tình, rồi vừa cười vừa nói:
-Thôi tha hồ ngài được toại nguyện bình sinh. Ngài có thể cứu tế cho trẻ mồ côi ba
quận, chứ đừng nói một quận nhỏ bé này. ông Chi tiếp lời ngay:
-Còn ông, ông cũng tha hồ mở nhiều nhà thương làm phúc... Chợt bác sĩ quay lại phía
tôi:
-Còn cậu Dim! Cậu là người có công đầu trong việc này, ý cậu thế nào? Cậu có đi với
chúng tôi không? Tôi lúng túng một lúc lâu rồi ấp úng trả lời:
-Tôi xin đi theo... Bác sĩ Ly lại quay sang nói với ông Chi:
-Việc này rất hệ trọng, có thể nguy hiểm đến tính mạng như chơi, vì giấy tờ này không
phải chỉ riêng chúng ta biết... ông Chi khảng khái đáp:
-Dù có phải nguy hiểm đến tính mạng tôi cũng không ân hận gì vì chúng ta đang làm
một việc nghĩa... Bác sĩ ngắt lời:
-Vì thế, tôi chỉ lo một người có thể làm lộ công việc. ông Chi nói to:
-Kẻ ấy là ai, ông thử nói tên nó ra? Bác sĩ đáp:
-Chính ngài chứ ai nữa! Vì ngài hay bộp chộp. ông Chi im lặng rồi nói khẽ:
-Ngài nói chí lý. Tôi xin giữ kín việc này.
CHƯƠNG 7 - TÊN BẾP TÀU
Cuộc chuẩn bị vẫn kéo dài. Bác sĩ Ly và ông Chi đều đi lo công việc. Chỉ còn tôi ở lại
nhà với lão Ri-đrus. Suốt ngày, tôi ngồi tưởng tượng đến tương lai với lòng chứa chan
những ước mơ đẹp đẽ. Khi thì tôi nghĩ đến những nhà thương đồ sộ mà bất kể nghèo
giàu, hễ ai vào đấy là đều được săn sóc chu đáo, không phải trả một đồng xu nhỏ. Cái
cảnh vì thiếu tiền thuốc mà phải chết dần chết mòn như cha tôi sẽ không còn nữa. Khi
thì tôi tưởng tượng đến sự mừng rỡ của những đứa trẻ mồ côi nghèo đói được nuôi
dưỡng ăn học như con nhà giàu. Có những cảnh làm tôi xúc động đến rớm nước mắt.
Có lúc tôi lại say sưa mơ tưởng về biển: nào phong cảnh tuyệt vời của đảo, nào những
thứ hoa thơm cỏ lạ, nào những chuyện phiêu lưu thần kỳ. Tôi ngồi hình dung lại bản
đồ, nhớ các chỗ từng ly từng tí. Rồi một hôm, có phong thư của ông Chi gửi về báo
tin công việc đã sắp đặt xong, bảo lão Ri và tôi thu xếp đến ngay và nhắn cả bác sĩ Ly
tới gấp. Trong thư có nói rõ là ông đã tìm được một viên thuyền trưởng rất thạo nghề,
chỉ phải cái hay bẳn tính, và một thủy thủ cụt một chân tên là Xin-ve rất vừa ý. Người
thủy thủ cụt chân này sẽ giữ chân đầu bếp dưới tàu. Sáng hôm sau, lão Ri và tôi lên
đường đi Brít-tôn. Tôi ghé lại nhà, từ biệt mẹ tôi. Nhà cửa đã được ông Chi cho sửa
sang lại và thuê cho một người phụ việc, nên ra đi, tôi cũng yên lòng. Chiều hôm ấy
chúng tôi lên xe ngựa. Sáng hôm sau, khi choàng mắt dậy đã thấy đến Brít-tôn. Chúng
tôi phải đi bộ đến quán trọ đầu bến tàu, nơi ông Chi ở tạm. Khi đi qua bến, tôi được
nhìn tận mắt rất nhiều tàu, đủ các cỡ, đủ các kiểu, thuộc đủ các nước. Trên tàu, thủy
thủ vừa làm vừa hát. Trên một chiếc khác, nhiều người đánh đu trên ngọn cột buồm
cao tít, bám vào sợi dây trông nhỏ như mạng nhện. Tôi sống suốt đời gần biển mà
chưa bao giờ có cái cảm giác được gần biển như lần này. Tôi thấy nhiều tay thủy thủ
già đeo khuyên ở tai, râu mép xoắn tít, đuôi tóc sơn thõng xuống như đuô...
ĐẢO GIẤU VÀNG
Nhà xuất bản: NXB Văn Học
Dịch giả: Đăng Khánh
Dự án 1.000.000 ebook cho thiết bị di động
Phát hành ebook: http://www.SachMoi.net
Tạo ebook: Tô Hải Triều
Ebook thực hiện dành cho những bạn chưa có điều kiện mua sách.
Nếu bạn có khả năng hãy mua sách gốc để ủng hộ tác giả, người dịch và Nhà
Xuất Bản
CHƯƠNG 1
Ngày ấy cha tôi còn đứng chủ quán cơm "Đô đốc Bin-bâu". Quán cơm dựng ở một
nơi hẻo lánh trên cửa biển. Hàng ế ẩm, khách thưa thớt, cảnh nhà túng quẫn. Cha tôi
phần lo buồn, phần ốm yếu khật khừ. Cha tôi có thể còn sống lâu nữa nếu không gặp
phải cái tên thủy thủ già ấy đến trọ. Tôi còn nhớ rõ như mới gặp hắn hôm qua. Hắn
nặng nề đi đến cửa, chiếc hòm đặt trên xe theo sau. Người hắn to lớn, vạm vỡ, nước
da lưng sạm như gạch nung, cái đuôi tóc trên đầu bết lại như keo lòng thòng trên cổ
áo xanh đã hoen nhiều vết; tay hắn sần sùi; trên má có một vết sẹo chém dọc xuống,
trắng bệch trông đến bẩn. Tôi còn nhớ, hắn đứng đưa mắt nhìn quanh cửa biển, miệng
huýt sáo rồi cất tiếng hát bài hát cổ của bọn thủy thủ, bài hát ấy về sau hắn hát luôn.
Mười lăm thằng trên hòm người chết ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say bét say be! Hắn hát
to, giọng ồ ồ cũ kỹ. Hát xong hắn cầm gậy gõ cửa. Cha tôi ra, hắn bảo đem một cốc
rượu "rum", giọng rất cộc cằn. Hắn nhấm nháp rượu ra vẻ một tay sành. Hắn chăm
chú nhìn ra bờ biển dốc ngược, nhìn vào cái biển cửa hàng rồi nói:
-Cái quán này thật là nơi thuận lợi. Đông khách không bác? Cha tôi trả lời:
-Thưa khách lắm.
-Cũng chỉ cần thế. Nói xong hắn gọi người phu khuân hòm vào nhà. Lát sau, hắn lại
nói:
-Tôi nghỉ đây ít lâu. Tính tôi rất dễ dãi. Chỉ cần một ít rượu "rum", ít trứng và mỡ là
đủ; với lại thỉnh thoảng ra đứng ngoài kia xem tàu chạy. Mà bác sẽ gọi tôi như thế nào
nhỉ? Thôi cứ gọi là ông chúa tàu vậy. à thôi! Tôi biết cái điều bác đang lưỡng lự rồi!
Này đây! Nói thế, hắn quẳng ngay ba bốn đồng tiền vàng ra:
-Khi nào hết, bác cứ bảo tôi!
-Hắn nói một cách thô lỗ và rất hách dịch. Tuy ăn vận lôi thôi, nói năng cục cằn,
nhưng coi bộ hắn không phải một thủy thủ thường. Hắn ra dáng một viên thuyền
trưởng hay phó thuyền trưởng quen lối tác oai tác quái với kẻ dưới. Bình thường, tính
hắn rất trầm mặc. Suốt ngày hắn thơ thẩn ven bờ biển cao, tay cầm cái ống nhòm
bằng đồng. Chiều tối, hắn về ngồi thu lu ở xó buồng bên cạnh đống lửa, uống rất
nhiều rượu "rum" pha nước. Mỗi lần đi chơi về, hắn lại hỏi: có người thủy thủ nào đi
qua đây không?
Mới đầu, chúng tôi tưởng hắn muốn tìm người thân thuộc, nhưng sau mới biết hắn
muốn tránh mặt bọn thủy thủ. Một hôm, hắn gọi tôi ra một nơi và dặn hễ nhìn thấy
tên thủy thủ cụt một chân thì nhớ bảo ngay cho hắn biết; rồi hắn hẹn cứ mồng một
đầu tháng hắn sẽ cho bốn xu. Thường đầu tháng, tôi phải đến nhắc hắn cho tiền, và
mỗi bận như thế hắn thở phì phì, giương mắt nhìn tôi làm tôi phải cúi mặt. Nhưng sau
đấy, hắn lại đưa tiền cho tôi và nhắc lại phải để ý tìm người thủy thủ cụt chân. Không
nói thì các bạn cũng biết cái hình ảnh anh lính thủy cụt chân này đến ám ảnh tôi luôn.
Trong những đêm bão tố, gió lay bốn góc nhà, sóng gầm ven bến quanh bờ, tôi mơ
thấy anh ta hiện ra thiên hình vạn trạng. Lúc thấy chân anh cụt tới gối, lúc cụt đến
bẹn, lúc chỉ còn một chân mọc ở giữa ngực. Có đêm thấy anh ta nhảy qua rào qua hố
đuổi tôi, làm tôi sợ toát mồ hôi. Chỉ vì bốn xu mà phải chịu những cơn sợ như vậy, kể
ra bốn xu cũng to quá. Tên chúa tàu uống nhiều rượu "rum" đến nỗi nhiều đêm hắn
như lên cơn loạn óc. Hắn ngồi hát những bài ca cổ man rợ. Có khi hắn gọi rượu, ép
mọi người phải uống để nghe hắn kể chuyện hay hát theo cùng hắn. Mọi người run sợ
phải cố hát theo. Nhiều lúc cả nhà ầm lên những câu hát: ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say
bét say be! Khi thì hắn đập bàn bắt mọi người ngồi im lặng. Lúc ấy hễ ai hỏi động đến
hắn là hắn nổi cơn thịnh nộ. Chỉ đến khi say khướt, chân tay mềm rủn, hắn mới để
khách ra về. Chuyện hắn kể rặt là những chuyện khủng khiếp: nào thắt cổ nhục hình,
nào bão biển, đảo Rùa, nào những chuyện kỳ quặc trên đất hoang thuộc xứ Tây Ban
Nha. Cha tôi lo buồn sợ mất khách vì hắn. Nhưng điều nguy hơn cả là hắn cứ ở lần
lữa ngày này qua ngày nọ đến nỗi tiền hắn đưa trả đã hết từ lâu mà cha tôi cũng không
có can đảm để hỏi hắn. Hễ đả động đến là mắt hắn long lên, mũi hắn gầm gừ thở phì
phò làm cha tôi phải vội vã rút lui. Và mỗi bận như thế cha tôi lại vặn tay uất ức.
Những lo phiền sợ hãi ấy đã làm bệnh tình cha tôi thêm trầm trọng. Trong khi hắn ở
trọ quán chúng tôi, hắn vẫn đội cái mũ ba vành nhàu nát và cái áo xanh lem luốc vá
víu trăm mảnh. Hắn chẳng bắt chuyện với ai sau lúc hắn tỉnh dậy. Cả đến cái hòm to
của hắn cũng chẳng bao giờ thấy hắn mở. Có một lần hắn gặp tay đối thủ. Lúc ấy cha
tôi đang ốm nặng. Buổi trưa ấy, bác sĩ Ly-vơ-xây đến thăm bệnh cha tôi. Bác sĩ là
người nhân từ có tiếng. Gặp những người nghèo khổ, ông hay giúp đỡ và có lúc chữa
bệnh cho họ không hề lấy một xu nhỏ. Riêng đối với gia đình tôi, ông là một vị ân
nhân. Xem xong bệnh cho cha tôi, ông sang phòng bên hút thuốc. Anh chúa tàu đang
ê a bài hát cũ: Mười lăm thằng trên hòm người chết, ỳ a, ỳ a... Be rượu "rum" say bét
say be! Ngoài bác sĩ ra, bài hát này chẳng ai lạ tai hết. Hát xong, quen lệ hắn đập tay
xuống bàn quát mọi người im.
Mọi người đều nín thít. Riêng bác sĩ vẫn hút thuốc và vẫn ôn tồn giảng cho một ông
lão nghe cách trị bệnh tê thấp. Anh chúa tàu trừng trừng nhìn bác sĩ, lại vỗ bàn, rồi
quát lên bằng giọng tục tĩu:
-Đằng ấy có câm mồm không? Bác sĩ nói:
-ông bảo tôi phải không? Khi anh chàng tục tằn kia bảo "phải", bác sĩ nói:
-Tôi nói với anh điều này: nếu anh cứ uống rượu "rum" mãi, thì đến phải tống anh đi
nơi khác. Cơn tức của tên giặc già thật đến ghê. Hắn đứng phắt dậy rút soạt dao ra,
lăm lăm chực đâm bác sĩ. Tôi lo cho bác sĩ quá. Nhưng ông vẫn vững chãi, giọng vừa
dõng dạc vừa bình tĩnh mà quả quyết:
-Nếu anh không cất dao vào, tôi quyết sẽ làm anh bị treo cổ trong phiên tòa đại hình
sắp tới. Tôi còn nhớ trông bác sĩ lúc này với gã kia thật khác nhau một trời một vực.
Một đằng thì đức độ khoan dung, hiền từ mà nghiêm nghị. Một đằng thì nanh ác,
hung hăng như con thú dữ nhốt chuồng. Hai người đưa mắt gườm nhau. Rốt cục tên
chúa tàu gằm mặt xuống, tra dao vào, ngồi xuống, làu bàu trong cổ họng. Bác sĩ nói:
-Bây giờ tôi mới biết trong quận này có một người như anh. Tôi không chỉ làm thầy
thuốc, tôi còn xử án nữa. Nếu bận sau còn xảy ra việc gì, tôi sẽ ra lệnh bắt và đuổi anh
ra khỏi đất này. Một lát sau, bác sĩ lên ngựa. Từ đêm ấy và những đêm sau, tên chúa
tàu im như thóc.
CHƯƠNG 2 - HẮC CẨU
Mùa đông năm ấy rất lạnh, tuyết to, bão lớn. Bệnh tình cha tôi không còn hy vọng qua
khỏi mùa đông. Tất cả công việc nhà đều đổ vào vai hai mẹ con tôi, nên chúng tôi
cũng không còn đâu thì giờ rỗi để gặp ông khách khả ố ấy nữa. Tháng giêng, một
buổi sáng rét buốt, tuyết phủ trắng bến tàu, sóng vỗ nhẹ trên đá, mặt trời vừa nhô lên
đầu núi, chiếu sáng mặt biển xa. Viên chúa tàu dậy sớm hơn thường lệ. Hắn đi ra biển,
con dao dài lủng lẳng, ống nhòm dưới nách, mũ hất ngược ra sau. Tôi nhớ khi hắn đi
khuất sau tảng đá, tôi còn nghe tiếng hắn thở phì phò gầm gừ như đương cơn tức. Lúc
bấy giờ tôi đương lúi húi dọn cơm sáng sẵn để hắn về ăn. Chợt cửa mở, một người lạ
mặt bước vào. Mặt hắn xanh sạm, bàn tay trái cụt hai ngón. Hắn không giống người đi
biển nhưng có vẻ làm cho người ta phải nhớ đến biển. Hắn bảo hắn muốn dùng
"rum". Tôi sắp đi lấy thì hắn ra hiệu bảo tôi đến gần. Tôi dừng lại. Hắn gọi:
-Lại đây chú bé! Lại gần đây! Rồi hắn hỏi:
-Bàn ăn này có phải của ông bạn Bin không? Tôi bảo không biết ai tên là Bin, mà đây
là bàn của người khách trọ thường gọi là ông chúa tàu.
-Phải, phải! Chúa tàu cũng đúng! ông ta có cái sẹo ở má trái, tính ông ta vui đáo để,
nhất là khi ông ấy say, phải không nào? Đúng đứt đi chứ lị! Thế ông Bin có nhà
không?
-Đi vắng rồi.
-Đi đâu? Đi về lối nào? Nhìn lối tôi chỉ xong, người khách lạ ngồi lại, mắt hau háu
nhìn ra bến như mèo rình chuột. Vừa lúc tôi chạy ra đường, hắn gọi giật ngay; tôi chưa
kịp vào, hắn rủa một tiếng làm tôi mất hồn. Khi tôi vào rồi, hắn trở lại nhã nhặn, vỗ
vai tôi, khen tôi là đứa trẻ ngoan và bảo hắn thích tôi lắm:
-Tao cũng có đứa con trai giống mày như đúc. Nhưng đã là con trai thì phải biết nghe
lời, nghe không con? à đây rồi, ông Bin đã về kia. Tao với mày hãy vào buồng nấp
sau cửa này để cho ông ta một mẻ hết vía chơi. Nói thế rồi hắn lôi tôi vào buồng nấp
sau cánh cửa bỏ ngỏ; hắn để tôi đứng sau lưng, tay hắn sờ vào chuôi dao sau áo. Một
chốc, tên chúa tàu bước vào, đóng sầm cửa rồi bước thẳng lại bàn ăn.
-Bin!
-Người lạ lên tiếng gọi, cố lấy giọng cho to, cho dõng dạc. Viên chúa tàu quay lại. Mặt
hắn biến sắc tái mét. Mắt hắn thất thần, người hắn bỗng chốc trở nên già sọm. Người
lạ lại nói:
-Anh Bin, anh còn nhận ra người bạn cũ này chứ? Viên chúa tàu hổn hển thở phào
một tiếng:
-Hắc Cẩu!
-Không Hắc Cẩu thì còn ai vào đây nữa. Chao! Anh Bin ơi! Từ khi tôi mất hai ngón
tay này, hai chúng ta đã gặp bao chuyện trên đời! Hắn vừa nói vừa giơ bàn tay trái cụt
ngón ra. Viên chúa tàu nói:
-Thôi! Anh đã tìm được tôi... Muốn gì nói đi!
-Bin, anh nói đúng! Để tôi bảo cậu bé đáng yêu này lấy cốc "rum", rồi chúng ta sẽ nói
chuyện với nhau như những người bạn cũ. Khi tôi mang rượu vào, Hắc Cẩu bảo tôi ra
và không được đứng nghe ở cửa. Tôi ra ngoài quầy, cố lắng tai nhưng chỉ nghe tiếng rì
rầm, một vài tiếng chửi rủa của viên chúa tàu. Thốt nhiên có tiếng bàn ghế đổ, tiếp
theo là tiếng dao loảng xoảng rồi tiếng kêu thất thanh. Một chốc, tôi thấy Hắc Cẩu
chạy ra, tên chúa tàu đuổi sát sau, vai Hắc Cẩu máu đổ ròng ròng. Đến cửa ngoài, viên
chúa tàu giơ dao chém bổ xuống nhưng lưỡi dao vướng vào tấm biển hàng. Hắc Cẩu
thoát ra ngoài, chạy biến mất sau gò. Còn viên chúa tàu giụi mắt đứng ngơ ngác rồi
vào nhà. Hắn gọi tôi:
-Dim! Đem "rum" đây!
Hắn vừa nói vừa lảo đảo, tay dựa vào tường. Tôi bàng hoàng chạy đi lấy rượu. Bỗng
nghe tiếng đánh thịch trong phòng. Tôi vào thì đã thấy tên chúa tàu nằm dài sóng
sượt, bất tỉnh nhân sự. Lúc ấy mẹ tôi nghe tiếng chạy xuống. Chúng tôi nâng cao đầu
hắn lên. Mẹ tôi kêu:
-ối giời! Khổ ơi là khổ! Lại còn bố mày ốm nằm liệt trên kia! Giữa lúc chúng tôi đang
bối rối thì cánh cửa mở, bác sĩ Ly bước vào. Trông thấy bác sĩ, chúng tôi mừng khôn
xiết. Tôi vội nói:
-Thưa bác sĩ, không hiểu lão bị thương ở đâu mà chết cứng thế này. Bác sĩ điềm nhiên
bảo:
-Bị thương gì! Hắn lên chứng động kinh đấy.
-Giọng ông trở nên ân cần ấm cúng.
-Còn bà, thôi hãy lên với ông nhà; đừng để ông nhà biết chuyện này. Tôi sẽ cố chạy
chữa cho hắn. Nào cậu Dim! Đi lấy cái thau đây. Khi tôi đem thau lại thì bác sĩ đã xắn
cánh tay áo hắn lên. Trên cánh tay lực lưỡng có trổ nhiều dòng chữ:
“Thuận buồm xuôi gió", "Tai qua nạn khỏi", "Bin-bôn cóc cần". Bác sĩ bảo:
-Cậu cầm lấy chậu thau. Nào thử xem máu anh này ra sao. Nói thế rồi bác sĩ cầm dao
chích vào mạch máu hắn. Khi máu chảy ra nhiều, hắn mới tỉnh dần và kêu lên:
-Hắc Cẩu đâu rồi?
-Chẳng có Hắc Cẩu đâu. Hắc Cẩu chỉ ở trong lương tâm của anh thôi!
-Bác sĩ đáp.
-Anh uống quá nhiều "rum" nên mắc phải chứng kinh phong đấy. Và bây giờ, ông
Bin-bôn...
-Tên ấy không phải tên tôi
-Hắn vội nói. Bác sĩ bảo:
-Muốn tên gì cũng được. Tên ấy là tên một thằng cướp biển mà tôi từng biết! Tôi chỉ
khuyên anh một điều: một cốc rượu "rum" chưa can gì, nhưng nếu cứ chén trong kéo
chén ngoài thì có ngày anh đi đứt. Hiểu chưa? Thôi bây giờ anh cố gượng, tôi đưa anh
lên buồng ngủ. Khó nhọc lắm, chúng tôi mới vực được hắn lên giường. Hắn nằm
thiêm thiếp. Bác sĩ kéo tôi ra:
-Không hề gì đâu, tôi đã lấy khá nhiều máu ở cánh tay hắn để hắn phải nằm yên ít lâu.
Như thế cũng yên cho hắn mà cũng yên cho gia đình cậu. Chỉ lên cơn một lần nữa là
hắn đi đời.
CHƯƠNG 3 - CÁI VẾT ĐEN
Một buổi trưa, tôi đến buồng viên chúa tàu, đem cho hắn ít thức ăn và thuốc
-sắc mặt hắn trông xanh xao và ngớ ngẩn. Hắn bảo tôi:
-Cậu Dim, bây giờ tôi chỉ còn mình cậu. Người ta khinh khi tôi, chẳng ai thèm ngó
đến tôi nữa. Cậu cũng biết tôi đối xử với cậu thế nào. Tháng nào tôi cũng cho cậu bốn
xu đấy... à này, cậu cho tôi xin một cốc rượu "rum" nào.
-Thầy thuốc đã dặn... Tôi chưa nói hết câu, hắn đã chửi rầm lên:
-Bọn thầy thuốc thì biết cóc khô gì! Lão lang ấy hiểu thế nào được bọn thủy thủ chúng
tôi. Tôi đã từng vào những chốn nước sôi lửa bỏng, đất nóng như lửa than và động
như sóng cồn mà tôi sống được cũng chỉ nhờ uống "rum". Không có rượu "rum", tôi
còn thua cái giẻ rách. Mẹ kiếp, cái lão lang đểu cáng! Giọng hắn lại trở thành van lơn:
-Cậu Dim, cậu thử nhìn ngón tay tôi run bắn thế này, chỉ vì không có một giọt rượu.
Nếu cậu không cho tôi hớp rượu, tôi điên lên bây giờ. Tôi đã thấy lão Phơ-linh đứng ở
xó kia. Tôi đã nóng mắt lên rồi đây. Nào, cậu lấy cho tôi một cốc, nhanh lên, tôi sẽ
cho cậu một đồng tiền vàng nước Ghi-nê. Thấy hắn đưa tiền ra dử, tôi tức lộn ruột.
Nhưng nghĩ đến cha đương bệnh nặng, cần yên tĩnh thuốc thang, sợ hắn làm ầm lên,
tôi bảo:
-Tôi chỉ cần ông trả tiền cơm cho đủ, ngoài ra tôi không thèm ngửa tay lấy một xu nào
của ông cả. Tôi chỉ rót cho ông một cốc rượu thôi, không được vòi thêm đấy! Cốc
rượu tôi đưa, hắn ực một hơi cạn ráo. Hắn bảo:
-Hà, đã thấy hơi dễ chịu! Cậu có biết thầy thuốc bảo tôi còn phải nằm bao lâu không?
-ít ra cũng một tuần lễ. Hắn kêu to:
-Chết mẹ! Một tuần lễ là không được rồi. Chẳng mấy chốc mà bọn nó sẽ gửi cái vết
đen đến rồi! Hắn cố chống tay ngồi dậy rồi lại ngã giụi xuống giường. Tôi hỏi:
-Vết đen là cái gì?
-Đó là dấu hiệu báo trước. Bọn chúng mà gửi vết đen đến là muốn đoạt lấy chiếc hòm
của tôi đó. Bọn chúng toàn đồ chó má, chỉ muốn ăn cướp của người. Nếu chúng gửi
vết đen đến, cậu cứ mượn ngựa... mượn ngựa đến cái lão thầy thuốc... Cậu báo cho cái
ông ấy biết là cứ rình ở đây, sẽ tóm được hết cả lũ thủ hạ của lão Phơ-linh. Khi xưa tôi
là phó thuyền của lão ấy. Khi chết, lão đã chỉ cho một mình tôi biết cái chỗ ấy. Hắn
còn nói huyên thiên, tiếng nói cứ yếu dần, rồi hắn ngủ thiếp đi. Tôi đã định đi kể
chuyện cho bác sĩ Ly nghe nhưng thốt nhiên cha tôi mất, mọi việc đành xếp lại. Lòng
thương cha, việc tang bận rộn làm tôi gần như quên bẵng tên chúa tàu và cũng không
sợ hắn như trước nữa. Có điều lạ là sáng hôm sau, hắn đã xuống nhà ăn cơm và uống
nhiều rượu "rum" hơn mọi bận. Sức hắn mỗi ngày mỗi lụn dần, nhưng tính hung hãn
vẫn như xưa.
Ngay sau hôm đưa đám cha tôi, tôi ra đứng trước cửa. Trời chiều, khí lạnh mịt mù,
tình thương cha bùi ngùi trong dạ. Tôi chợt thấy trên đường cái một người đi lại. Tôi
đoán chắc là người mù, vì hắn cầm gậy khua phía trước. Hắn đeo một miếng the xanh
che kín mắt mũi, tuổi hắn già, hắn mặc cái áo đi biển cũ rích. Hắn dừng trước cửa
quán, lên tiếng hỏi:
-ông bà nào làm phúc bảo cho kẻ mù lòa này biết nơi này là đâu? Lòng thương nhớ
cha tôi còn bổi hổi nên trông thấy kẻ tàn tật, tôi bỗng chạnh lòng. Tôi vội bảo:
-Này ông già, đây là quán "Đô đốc Bin-bâu".
-Tôi nghe tiếng ai như tiếng một cậu bé... Cậu ơi! Cậu dắt hộ lão với... Không ngần
ngại, tôi đưa tay cho hắn cầm. Tên mù có giọng nói ngọt xớt ấy liền bóp chặt tay tôi
như kìm sắt. Tôi hoảng sợ cố gỡ ra nhưng hắn kéo tôi lại gần bảo nhỏ:
-Đưa tao đến gặp viên chúa tàu!
-Thưa ông, tôi quả không dám. Hắn cười khanh khách, vẻ chế giễu:
-Đưa tao vào ngay, không tao bẻ gãy tay bây giờ. Tôi định phân trần, hắn đã cướp lời:
-Không nói nữa, đi vào ngay! Tôi không thấy tiếng ai độc ác, lạnh lùng và gớm ghiếc
như tiếng tên mù ấy. Tôi đau thì ít mà sợ thì nhiều nên phải nghe lời hắn. Tay tên mù
nắm chặt lấy tôi như bàn tay sắt. Tôi đưa hắn vào chỗ tên giặc già đương say rượu lừ
đừ. Tên chúa tàu thoạt thấy tên mù, hơi rượu "rum" bỗng bay mất. Hắn tỉnh hẳn, trố
mắt lên nhìn. Hắn cố đứng dậy nhưng không còn sức. Tên mù nói:
-Này anh Bin, hãy ngồi yên đấy. Việc đâu có đó. Cậu bé này cầm lấy cổ tay trái ông
Bin đưa lại gần tay phải tôi... Tôi và cả viên chúa tàu đều tuân theo. Hắn trao cho viên
chúa tàu một vật gì giấu trong tay hắn. Xong hắn buông tay ra; thoắt một cái, hắn đã
ra ngoài và đến đường cái. Tôi nghe tiếng gậy lộc cộc xa dần. Một lúc sau, tên chúa
tàu mới hoàn hồn và nhìn xuống tay. Hắn kêu to:
-Kỳ hạn chúng cho đến mười giờ! Chúng ta còn sáu tiếng nữa... để lo liệu. Nói xong,
hắn đứng dậy. Ngay lúc ấy người hắn chới với, hắn đưa tay lên kêu rú một tiếng rồi
ngã vật xuống. Tôi chạy lại và gọi mẹ tôi. Nhưng không kịp! Hắn đã chết rồi.
CHƯƠNG 4 - CÁI HÒM CỦA VIÊN CHÚA
TÀU
Bấy giờ tôi mới nói những điều tôi biết cho mẹ tôi nghe. Hai mẹ con tôi đương lâm
vào cảnh ngộ rất khó khăn. Phần nợ của viên chúa tàu đã làm chúng tôi sạt nghiệp,
phần giặc cướp rình mò quanh nhà. Trong lúc nguy khốn này, tôi chỉ biết nghĩ đến
bác sĩ Ly. Tôi muốn đến báo với ông nhưng lại sợ để mẹ ở nhà một mình, ngộ xảy ra
việc gì, lòng tôi không nỡ. Cuối cùng mẹ con tôi quyết định chạy lên xóm bên cầu
cứu. Chúng tôi ra đi trong lúc nhá nhem tối, sương mù lạnh buốt; cái xóm chỉ cách
nhà tôi dăm trăm mét, vậy mà mịt mù không thấy đâu cả! Đi được một đoạn, hai mẹ
con dừng lại lắng nghe... Nhưng ngoài tiếng nước vỗ, tiếng quạ kêu trong rừng, chẳng
nghe thấy tiếng gì khác. Đến xóm thì vừa lúc lên đèn. Tôi không quên được phút vui
mừng khi trông thấy ánh đèn. Chúng tôi cầm chắc đến đây là có người cứu giúp.
Nhưng khi nghe đến tên tướng cướp Phơ-linh và đồng đảng của hắn là mọi người rụt
cổ. Rút cục chỉ có người chịu đi báo với ông Ly, nhưng không ai chịu đến giữ quán
cơm với chúng tôi cả. Người ta nói, bệnh sợ là bệnh hay lây. Nhưng sợ quá cũng hóa
liều, thành đánh bạo. Mẹ tôi bảo không muốn để đứa con vừa mồ côi cha phải mất
một số tiền nợ. Mẹ tôi mượn một cái túi đựng tiền, rồi hai mẹ con dắt díu nhau trở về.
Mặt trăng mới mọc chiếu hồng lớp sương mù. Chúng tôi đi nhanh chân để khi trở lại,
trăng chưa sáng. Đến nhà, đóng cửa xong mới thấy yên tâm. Mẹ tôi lấy nến đốt lên rồi
hai mẹ con dắt nhau vào phòng. Xác tên chúa tàu vẫn nằm ngửa như cũ. Mẹ tôi bảo
nhỏ:
-Kéo cửa gỗ xuống con! Kẻo ở ngoài trông thấy. Xong, mẹ tôi bảo phải lấy cái chìa
khóa trong mình hắn. Tôi đánh bạo quỳ xuống... Cạnh tay hắn có một mảnh giấy tròn
nhỏ, một mặt bôi đen. Tôi đoán ngay là cái vết đen. Mặt bên kia viết mấy chữ:
“Kỳ hạn cho anh đến 10 giờ đêm nay là hết". Tôi nhìn lên cái đồng hồ cổ treo trên
vách. Mới có 6 giờ. Mẹ tôi giục:
-Dim! Tìm chìa khóa đi con! Tôi lần túi hắn, hết túi này sang túi nọ, nhưng tôi thất
vọng. Mẹ tôi bảo:
-Có khi hắn treo ở cổ.
Tôi mò lên thì thấy cái chìa khóa buộc vào một đoạn dây, treo ngay ở cổ. Chúng tôi
vội vã lên gác, vào thẳng gian phòng hắn ngủ, nơi hắn để chiếc hòm đồ khi mới đến.
Chiếc hòm này cũng giống như trăm ngàn chiếc hòm khác của bọn thủy thủ. Trên mặt
hòm có khắc một chữ "B" bằng sắt nung. Vừa mở nắp lên, thấy sặc mùi thuốc lá và
hơi nhựa. ở ngăn trên thấy có một bộ quần áo còn mới nguyên. ở dưới, các thứ để lộn
xộn: một cái thước đo đường biển, vài cuộn thuốc lá, hai khẩu súng lục thật đẹp, một
thoi bạc, một đồng hồ quả quít cổ, một ít đồ lặt vặt, phần nhiều là đồ nước ngoài, một
cái com-pa, một đôi địa bàn vỏ đồng và năm sáu cái vỏ ốc. Nói chung chẳng có vật gì
quý giá. ở dưới nữa, thấy có một cái áo tơi đi biển đã bạc màu. Mẹ tôi sốt ruột, lôi cái
áo ấy lên. Trong hòm chỉ còn một gói bọc vải sơn dầu hình như ở trong có gói giấy
má gì và một cái túi vải; chạm đến túi nghe tiếng loảng xoảng. Mẹ tôi nói:
-Tao sẽ cho bọn bất lương thấy rằng tao là người lương thiện. Tao chỉ lấy đủ số tiền
nợ, không thèm lấy thêm một xu nhỏ... Này, cầm lấy cái túi...
Mẹ tôi vốc tiền trong túi của hắn, vừa đếm vừa bỏ vào cái túi tôi cầm. Trong túi hắn
có đủ cả tiền các nước: Tiền vàng Tây Ban Nha, tiền vàng Pháp, tiền Ghi-nê Anh, và
còn nhiều thứ tiền khác nữa. Tiền Ghi-nê có ít, nhưng chỉ có thứ tiền ấy mới tính nợ
được, vì thế đếm tiền vừa lâu vừa khó. Đang đếm tôi bỗng nghe tiếng gậy của thằng
mù khua trên đường cái lạnh. Hắn đang đi lại gần. Hắn gõ cửa quán mấy cái. Chúng
tôi nghe tiếng vặn quả đấm, tiếng then cửa lạch cạch rồi phút chốc trong ngoài yên
lặng... Lại nghe tiếng gậy lộc cộc trên đường xa dần rồi mất hẳn. Tôi nói:
-Mẹ ơi! Ta đem cả đi thôi. Tuy sợ, nhưng mẹ tôi vẫn khí khái, nhất định không chịu
lấy hơn số tiền nợ, mà cũng không chịu thiếu. Mẹ con đương giằng co nhau thì thốt
nghe có tiếng còi rúc ở phía đồi. Tôi vội vàng đứng dậy, vừa nhặt cái gói vải sơn dầu
vừa nói:
-Con lấy cái này cho đủ số tiền nợ. Chúng tôi lần xuống, bỏ lại cây nến rồi mở cửa
chạy ra ngoài. Sương mù tan nhanh, mặt trăng lồ lộ chiếu sáng trên dãy gò. Chúng tôi
bước nhanh. Chưa được nửa đường, chúng tôi đã nghe thấy tiếng chân nhiều người đi
lại; phía trước có một ngọn đèn lắc lư. Chúng tôi biết ngay trong bọn nó có người xách
đèn. Thốt nhiên mẹ tôi quỵ xuống nói như giối giăng:
-Con ơi! Cầm lấy tiền mà chạy đi thôi... Mẹ đuối sức rồi, không bước được nữa. May
sao đã đến gần cầu. Trong gian nguy, sức tôi khỏe lên gấp bội. Tôi xốc nách, dìu mẹ
tôi men theo bờ lạch, đến mãi dưới gầm cầu. Mẹ tôi thở hắt một tiếng rồi nằm vật ra.
Chúng tôi chỉ cách hàng cơm một quãng ngắn.
CHƯƠNG 5 - HẾT KIẾP THẰNG MÙ
Tuy tôi sợ nhưng tính tò mò của tôi lại mạnh hơn. Tôi bò lại nấp sau bụi, nhìn lên con
đường trước cửa nhà. Tôi vừa ngồi xuống thì bảy tám tên giặc ồ ạt chạy đến, tên cầm
đèn đi đầu. Tuy trời sương mù, tôi cũng nhận ra tên mù đi giữa. Một lát, nghe tiếng
hắn quát to:
-Phá cửa đi! Cả bọn kéo ùa vào nhà, lão mù đứng ngoài, luôn mồm đốc thúc và chửi
rủa. Thốt nhiên một tiếng kinh ngạc vọng ra:
-Lão Bin chết rồi! Nhưng tên mù quát:
-Đồ ngốc, cứ lục túi nó xem! Rồi những tiếng kêu kinh ngạc ầm nhà. Từ gác trên một
đứa thò đầu ra bảo:
-Piu ơi! Có kẻ đến trước lục tung cả rồi! Lão mù gầm lên:
-Có thấy cái ấy không?
-Có thấy tiền. Lão Piu rống lên:
-Tiền thì làm cái đếch gì! Tao hỏi giấy tờ của lão Phơ-linh kia!
-Chẳng có giấy tờ nào cả. Lão mù lại kêu to lên:
-Thôi, chính mấy đứa ở quán cơm lấy rồi! Chính thằng nhãi con! Biết thế ông móc
mắt nó cho sớm. Thôi chúng bay tản đi các ngả, tìm chúng ngay. Một tên đứng gần
cửa sổ bảo:
-Phải rồi! Đèn nó còn để đây. Ngay lúc ấy, tiếng còi lúc nãy lại rúc lên hai lần. Tôi
hiểu ngay là tiếng còi hiệu báo nguy của đồng đảng chúng. Tôi nghe lão Piu hét lớn:
-Còi mặc còi! Chúng bay chỉ là đồ ăn hại, đồ chó má! Cứ sục tìm chúng nó đi. Nhưng
bọn chúng vẫn ngần ngại. Lão mù lại chửi rầm lên:
-Lũ bay là đồ khốn kiếp! Của để trước miệng mà còn chần chừ! Chuyến này mà hỏng
việc là tại chúng mày cả. Một đứa trong bọn lên tiếng:
-Piu ơi! Đừng rống lên nữa! Cứ cầm lấy một ít tiền vàng đây mà xài!
Nghe thế, lão mù bỗng hằm hằm tức giận, vung gậy đập chan chát vào bọn kia. Bọn
chúng cũng chửi rủa lại. Nhờ trận ẩu đả ấy, chúng tôi thoát nạn. Giữa khi ấy có tiếng
ngựa phi dồn dập ở đỉnh gò, rồi tiếp theo một tiếng súng nổ cạnh đấy. Có lẽ đó là
tiếng báo hiệu nguy nhất, vì tôi thấy bọn giặc vụt chạy tán loạn, bỏ trơ lão mù lại một
mình. Lão ta vung gậy quờ quạng, vừa chạy vừa kêu gọi bọn kia. Nhưng tiếng vó
ngựa đã nện trên đỉnh gò và phi xuống dưới ánh trăng. Lão mù bỗng như điên dại,
chạy đâm thẳng ngay vào chân con ngựa đầu đàn đang phi tới. Lão chỉ kịp kêu lên
một tiếng. Bốn vó ngựa xéo lên mình lão, hất lão nằm úp sấp mặt xuống đất. Tôi nhảy
ra và nhận ra ngay những nhân viên thuế quan đương kéo đến. Nhưng tất cả bọn giặc
đã cao chạy xa bay. Thằng Piu thì đã chết thẳng cẳng. Mẹ tôi cũng đã tỉnh lại. Viên
thanh tra hỏi tôi bọn chúng định cướp gì trong nhà. Tôi thuật lại câu chuyện và nói:
-Tôi chắc không phải chúng kiếm tiền mà chính là chúng muốn tìm cái vật tôi đang
giữ đây. Bây giờ tôi muốn trao cái này lại cho bác sĩ Ly...
Viên thanh tra gật đầu tán thành ngay và chúng tôi cùng lên ngựa, đi nước kiệu về
thẳng nhà bác sĩ Ly.
CHƯƠNG 6 - GIẤY TỜ CỦA VIÊN CHÚA
TÀU
Lúc chúng tôi đến nơi thì người đầy tớ gái cho biết bác sĩ đã xuống chơi với nhà quý
tộc Chi-lô-nây và ngủ đêm ở đấy. Bác sĩ và ông Chi là hai người bạn thân tình. Theo
lời bác sĩ thì ông Chi là một người hào hiệp, giàu lòng bác ái, hay cứu khốn phò nguy.
ông ta chỉ thích đi săn và làm việc nghĩa. Đã có lần ông cho gọi tôi đến, hỏi han về sự
học hành và xoa đầu tôi, bảo:
-Cháu là đứa trẻ thông minh. Cháu nên gắng học để sau này thành người có ích cho
nước nhà.
Tôi còn nhớ lần ấy ông bảo mang lên cho tôi một đĩa thịt chim và bắt tôi ăn cho kỳ
hết mới nghe. Tuy đối với ông, tôi không thân bằng bác sĩ Ly, nhưng lòng tôi vẫn kính
phục ông hết sức. Khi chúng tôi đến thì thấy hai ông đang ngồi hút thuốc lá cạnh lò
sưởi. Lần này tôi mới nhìn được ông Chi rõ hơn. ông người cao lớn, nét mặt hiền từ
nhưng cương nghị, lông mày đen sẫm, khi giương lên, khi cau lại, tỏ ra người nhanh
trí và hơi kiêu kỳ. ông ngồi nghe viên thanh tra thương chính thuật chuyện một cách
thích thú. Thỉnh thoảng ông lại nhìn tôi, nửa như khen ngợi, nửa như khuyến khích.
Khi viên thanh tra ra về, bác sĩ Ly đứng dậy hỏi tôi:
-Cậu Dim, cái vật chúng muốn tìm là cái gì?
-Thưa ông, đây... Tôi vừa nói vừa đưa cái gói bọc vải sơn dầu cho bác sĩ. Bác sĩ ngắm
nghía, hình như muốn mở nhưng lại thôi. ông Chi hỏi tôi:
-Chắc cậu đói lắm, phải không? Không đợi tôi trả lời, ông đã gọi mang thức ăn ra. Lần
này cũng lại một đĩa thịt chim ướp. Tôi đang đói bụng, ăn rất ngon lành.
Bác sĩ Ly đương ngồi trầm ngâm, tay mân mê cái gói vải sơn dầu, bỗng ông hỏi ông
Chi:
-Này, chắc ngài đã nghe nói đến tên Phơ-linh? ông Chi đáp thực to:
-Lão Phơ-linh là tay trùm cướp khét tiếng, ai mà không biết! Bác sĩ Ly lại hỏi:
-Thế lão ấy có nhiều tiền của không? ông Chi lại nói to:
-Làm giặc, chả giết người kiếm tiền thì còn kiếm gì? Số tiền lão kiếm được suốt một
đời làm giặc cũng đủ cất một kho của lớn. Dừng một lát, bác sĩ Ly lại hỏi:
-Giá thử trong cái gói này đây có đủ giấy má để tìm nơi lão Phơ-linh giấu của, thì ngài
định liệu thế nào?
-Thì chúng ta sẽ sửa soạn một chiếc tàu, đi lấy về thôi. Bác sĩ nói:
-Thôi được! Xin mời cậu Dim lại đây! Khi tôi đến gần, bác sĩ đặt cái gói lên bàn rồi
trịnh trọng nói:
-Cậu là người có công lấy được vật này. Nếu cậu ưng thuận, chúng ta sẽ cùng mở ra
xem. Không nói thì các bạn cũng biết, tôi đã vui vẻ gật đầu. Trong gói có hai thứ: một
quyển sổ của tên Piu ghi tiền cướp được, và một phong bì niêm kín, có dấu đóng.
Thấy quyển sổ không có gì quan trọng, bác sĩ Ly liền mở đến phong bì. Trong đó có
bản đồ một cái đảo, có chia cả kinh tuyến, vĩ tuyến, các chỗ sâu, chỗ nông, tên núi,
tên bến, tên lạch và nơi đỗ tàu chắc chắn. Cái đảo chiều dài chín dặm, ngang năm
dặm, trông hình dáng như con rồng uốn. Đảo có hai bến rất kín, ở giữa có cái gò tên
là Vọng Viễn, có ghi nhiều dấu, có dấu mới ghi thêm. Tính ra thì có ba dấu chữ thập
đỏ, hai ở phía bắc đảo và một về phía tây nam. Gần dấu này có mấy chữ viết mực đỏ
rất rõ:
“Phần chính kho của là ở nơi này". Đằng sau, có chú thêm, chữ cùng do một người
viết:
“Cây to. Đồi con, gò Vọng Viễn, mũi đất về phía B.B.Đ. "Đảo Hình Người Đ.Đ.N.
"Mười mét..." Rồi một số dòng chữ chú thích nữa, dưới ký:“P."
Tuy vắn tắt và khó hiểu như vậy, nhưng trông mặt hai ông rạng rỡ vui mừng. Bác sĩ
kêu lên:
-Một kho của lớn sắp về tay chúng ta. Từ lúc xem xong bản đồ, nét mặt ông Chi vốn
trầm lặng bỗng giờ đây mắt sáng long lanh, ông đứng lên nói một cách say sưa:
-Tôi thì tôi nghĩ một kho của phi nghĩa sắp trở thành một kho của có ý nghĩa. Một
kho vàng nằm im vô dụng, giờ đây sắp được đem lên để làm sáng bao nhiêu khuôn
mặt khổ nghèo. Bác sĩ Ly gật gật đầu ra vẻ đồng tình, rồi vừa cười vừa nói:
-Thôi tha hồ ngài được toại nguyện bình sinh. Ngài có thể cứu tế cho trẻ mồ côi ba
quận, chứ đừng nói một quận nhỏ bé này. ông Chi tiếp lời ngay:
-Còn ông, ông cũng tha hồ mở nhiều nhà thương làm phúc... Chợt bác sĩ quay lại phía
tôi:
-Còn cậu Dim! Cậu là người có công đầu trong việc này, ý cậu thế nào? Cậu có đi với
chúng tôi không? Tôi lúng túng một lúc lâu rồi ấp úng trả lời:
-Tôi xin đi theo... Bác sĩ Ly lại quay sang nói với ông Chi:
-Việc này rất hệ trọng, có thể nguy hiểm đến tính mạng như chơi, vì giấy tờ này không
phải chỉ riêng chúng ta biết... ông Chi khảng khái đáp:
-Dù có phải nguy hiểm đến tính mạng tôi cũng không ân hận gì vì chúng ta đang làm
một việc nghĩa... Bác sĩ ngắt lời:
-Vì thế, tôi chỉ lo một người có thể làm lộ công việc. ông Chi nói to:
-Kẻ ấy là ai, ông thử nói tên nó ra? Bác sĩ đáp:
-Chính ngài chứ ai nữa! Vì ngài hay bộp chộp. ông Chi im lặng rồi nói khẽ:
-Ngài nói chí lý. Tôi xin giữ kín việc này.
CHƯƠNG 7 - TÊN BẾP TÀU
Cuộc chuẩn bị vẫn kéo dài. Bác sĩ Ly và ông Chi đều đi lo công việc. Chỉ còn tôi ở lại
nhà với lão Ri-đrus. Suốt ngày, tôi ngồi tưởng tượng đến tương lai với lòng chứa chan
những ước mơ đẹp đẽ. Khi thì tôi nghĩ đến những nhà thương đồ sộ mà bất kể nghèo
giàu, hễ ai vào đấy là đều được săn sóc chu đáo, không phải trả một đồng xu nhỏ. Cái
cảnh vì thiếu tiền thuốc mà phải chết dần chết mòn như cha tôi sẽ không còn nữa. Khi
thì tôi tưởng tượng đến sự mừng rỡ của những đứa trẻ mồ côi nghèo đói được nuôi
dưỡng ăn học như con nhà giàu. Có những cảnh làm tôi xúc động đến rớm nước mắt.
Có lúc tôi lại say sưa mơ tưởng về biển: nào phong cảnh tuyệt vời của đảo, nào những
thứ hoa thơm cỏ lạ, nào những chuyện phiêu lưu thần kỳ. Tôi ngồi hình dung lại bản
đồ, nhớ các chỗ từng ly từng tí. Rồi một hôm, có phong thư của ông Chi gửi về báo
tin công việc đã sắp đặt xong, bảo lão Ri và tôi thu xếp đến ngay và nhắn cả bác sĩ Ly
tới gấp. Trong thư có nói rõ là ông đã tìm được một viên thuyền trưởng rất thạo nghề,
chỉ phải cái hay bẳn tính, và một thủy thủ cụt một chân tên là Xin-ve rất vừa ý. Người
thủy thủ cụt chân này sẽ giữ chân đầu bếp dưới tàu. Sáng hôm sau, lão Ri và tôi lên
đường đi Brít-tôn. Tôi ghé lại nhà, từ biệt mẹ tôi. Nhà cửa đã được ông Chi cho sửa
sang lại và thuê cho một người phụ việc, nên ra đi, tôi cũng yên lòng. Chiều hôm ấy
chúng tôi lên xe ngựa. Sáng hôm sau, khi choàng mắt dậy đã thấy đến Brít-tôn. Chúng
tôi phải đi bộ đến quán trọ đầu bến tàu, nơi ông Chi ở tạm. Khi đi qua bến, tôi được
nhìn tận mắt rất nhiều tàu, đủ các cỡ, đủ các kiểu, thuộc đủ các nước. Trên tàu, thủy
thủ vừa làm vừa hát. Trên một chiếc khác, nhiều người đánh đu trên ngọn cột buồm
cao tít, bám vào sợi dây trông nhỏ như mạng nhện. Tôi sống suốt đời gần biển mà
chưa bao giờ có cái cảm giác được gần biển như lần này. Tôi thấy nhiều tay thủy thủ
già đeo khuyên ở tai, râu mép xoắn tít, đuôi tóc sơn thõng xuống như đuô...
 





